|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 320/2024/HS-ST Ngày 18-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mai Hoa; ông Lê Đình Hiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Diệp Thị Hương - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 312/2024/TLHS-ST, ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn G; sinh ngày 03/3/1994 tại Thái Nguyên.
Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: Xóm G, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Tự do. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể): Không. Con ông Nguyễn Văn H đã chết. Con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1964. Vợ con chưa có. Tiền sự, nhân thân: không.
Tiền án: Tại Bản án số 57/2023/HSST ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Nguyễn Văn G 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đang chấp hành án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
Người chứng kiến: Ông Trần Mạnh V, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa thì nội dung vụ án như sau: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 29/8/2024, tổ công tác Công an phường T, thành phố T làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực tổ H, phường T, khi đến đầu đường C - Hà Nội thì phát hiện một nam thanh niên đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiếp cận, yêu cầu nam thanh niên trên dừng lại kiểm tra. Người này chấp hành và khai tên là Nguyễn Văn G, bản thân nghiện ma túy, đang cất giấu ma túy trong người. G đã tự nguyện dùng tay lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng giao nộp cho tổ công tác (niêm phong ký hiệu G) và khai nhận đó là ma túy tổng hợp vừa mua được của một người đàn ông không quen biết với số tiền là 150.000 đồng với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng liên quan.
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 29/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành mở niêm niêm phong ký hiệu G, cân xác định khối lượng số chất tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Văn G. Số chất tinh thể màu trắng có khối lượng 0,275 gam, lấy toàn bộ số chất tinh thể màu trắng cho vào bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định; 01 viên nén màu hồng có khối lượng 0,093 gam, lấy toàn bộ viên nén màu hồng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 970/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Chất tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là chất ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,275 gam, viên nén màu hồng trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methanphetamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,093 gam".
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn G khai nhận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 29/8/2024 G bắt xe ôm đi từ nhà thuộc xóm G, xã C, thành phố T đến khu vực đường T để tìm mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, G gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua của người này 150.000 đồng tiền ma túy thì được người này đồng ý và đưa cho G 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá và 01 viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp. Sau khi mua xong, G cất gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc và đi bộ về phía đầu đường cao tốc hướng Thái Nguyên – Hà Nội để bắt xe ôm đi về nhà. Khi đi được một đoạn thì gặp Tổ công tác Công an phường T yêu cầu kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai nhận của Nguyễn Văn G phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 0,275 gam chất tinh thể màu trắng thu giữ ban đầu được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định. Cơ quan giám định đã hoàn lại 0,234 gam còn lại sau giám định được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu G1; 0,093 gam viên nén màu hồng thu giữ ban đầu được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định. Cơ quan giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định, hoàn lại vỏ bao gói mẫu được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu G2. 01 bì niêm phong ký hiệu G3 bên trong chứa vỏ bao mẫu niêm phong ban đầu hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
2
Tại Cáo trạng số 315/CT-VKSTPTN, ngày 23/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể như sau:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 21 đến 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 57/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ bì niêm phong ký hiệu G1, G2, G3.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người đúng tội, không oan. Bị cáo nói lời sau cùng bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho mức án thấp nhất và để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án từ khi khởi tố vụ án, điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.
- Về căn cứ buộc tội: Theo kết quả điều tra và tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 29/8/2024, tại khu vực đường T thuộc tổ H, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn G có hành vi tàng trữ 0,368 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an phường T, thành phố T, bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật được quy định như sau:
3
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc dược của Nhà nước nói chung và chất ma tuý nói riêng, hành vi đó không những làm ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, làm suy hao kinh tế và là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác nên cần xử lý nghiêm minh mới bảo đảm tính răn đe của pháp luật.
- Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Toà án xét xử về tội Đánh bạc, tuy nhiên bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng do bị cáo nghiện ma tuý nên đã lao vào con đường phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật.
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự chuyển hình phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 45 đến 48 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà là phù hợp và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bị cáo không có mục đích mua bán nhằm kiếm lời, tại phiên toà bị cáo khai không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Các bì niêm phong ký hiệu G1, G2, G3 bên trong chứa chất ma tuý và bì niêm phong ban đầu cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
- Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Văn G khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ vào ngày 29/8/2024 tại khu vực đường T,
4
thuộc tổ H, phường T, thành phố T. Quá trình điều tra không có tài liệu xác định được người đàn ông đã bán ma tuý cho G nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có căn cứ để điều tra, mở rộng vụ án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, chuyển hình phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2024. Được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 06/10/2022 đến ngày 02/3/2023.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy bì niêm phong ký hiệu G1, G2, G3.
(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong mô tả tại quyết định chuyển vật chứng số 241/QĐ-VKSTPTN ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn G phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
5 6 |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 320/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 320/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
