|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 320/2024/HSST Ngày: 22/10/2024 NHÂN DANH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Bà Dương Thị Thúy Vinh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Cao Khắc Tân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Yến - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 22/10/2024 Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 312/2024/TLST - HS ngày 04/10/2024 tại điểm cầu trung tâm: Phòng xử án trực tuyến Trụ sở Tòa án nhân dân TP Vinh, tỉnh Nghệ An; điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh N theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 379/ 2024/ QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Trung T; Sinh năm 1979 ; nơi ĐKHKTT: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại : Số nhà B, đường P, khối X, phường H, thành phố V, Nghệ An ; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Lê Trung C và bà: Lê Thị M; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: - Ngày 15/6/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 01/02/2019.
- Ngày 21/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 24/9/2023.
Nhân thân: Năm 2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong năm 2008.
Năm 2009, Tòa án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt năm 2010.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 27/7/2024, Lê Trung T đang đi trên đường L, thành phố V thì gặp người quen tên H. Qua nói chuyện, T hỏi H có lấy được ma túy đá không thì H đồng ý. T đưa cho H số tiền 500.000 đồng, nhờ H mua hộ ma túy. H cầm tiền rồi dẫn T vào ngõ ở đường N và nói T đứng đó chờ. Khoảng 30 phút sau thì H quay lại chỉ dẫn cho T vào ngõ lấy gói ma túy. T đi vào trong ngõ thấy 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng ở dưới đất, T nhặt lên cất dấu trong người rồi đi về nhà sử dụng. Quá trình sử dụng còn một ít ma túy đá trong cóng đã được đốt lên chuyển màu vàng nâu, T để lại cất dấu trong tủ quần áo cá nhân trong phòng ngủ của T để sử dụng tiếp. Đến khoảng 7 giờ ngày 31/7/2024, tổ công tác đặc biệt số 01 Công an thành phố V cùng với công an phường H đến triệu tập T làm việc theo kế hoạch 109/KH-UBND ngày 06/6/2024 của UBND phường H, thành phố vinh về đấu tranh làm sạch tội phạm và tệ nạn ma túy. Quá trình làm việc, T tự nguyện lấy 01 cóng thủy tinh màu trăng trong bầu cóng có chứa chất tinh thể màu nâu bám dính giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đưa T cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại kết luận giám định số 796/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 06/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu nâu thu giữ của Lê Trung T gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine có khối lượng là 0,262 gam"
Cáo trạng số 325/CT-VKS-TPV ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Lê Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng :
Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Trung T 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy Methamphetamine và 01 cóng thủy tinh màu trắng hiện có tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh.
Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra – công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Lê Trung T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 7 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, tại nhà số B, đường P thuộc khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Lê Trung T có hành vi tàng trữ trái phép 0,262 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Tổ công tác đặc biệt số 01 công an thành phố V cùng với công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Bị cáo đã bị xét xử nhiều lần về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đều chưa được xóa án tích nên lần phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm vì vậy Viện kiểm sát nhân thành phố V truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy
định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước; Gây mất trật tự trị an xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử lý nghiêm mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với những phân tích như trên nghĩ cần xử phạt bị cáo cao hơn mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hiện nay bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[4]. Về các vấn đề khác : Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho T, do T không biết rõ lai lịch địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[5]. Về vật chứng: Đối với số ma túy Methamphetamine thu giữ ở bị cáo được xác định là vật cấm lưu hành, cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 cóng thủy tinh được xác định là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6].Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về hình phạt: Căn cứ Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt:
Bị cáo Lê Trung T 05 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam 31/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong dán kín ghi vật chứng thu giữ của Lê Trung T có chứa 01 cóng thủy tinh màu trắng, một đầu có bầu uốn hình tròn, trong bầu cóng có chứa ma túy Methamphetamine hiện có tại kho chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, Nghệ An theo phiếu nhập kho vật chứng số NK2025/10 ngày 16/10/2024.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Lê Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Minh H1 |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 320/2024/HSST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 320/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội tàng trữ, bắt quả tang
