|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 320/2024/DS-PT Ngày 20-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hùng Quang
Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Phương Loan
Bà Châu Minh Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 187/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 171/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1983
- Bà Đặng Thị Hồng C, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Vũ P, sinh năm 1980. Địa chỉ cư trú: Nhà không số, đường N, khóm F, phường I, thành phố C. Theo văn bản ủy quyền ngày 21/6/2024 (có mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1956. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Ông Võ Văn Đ (vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Phong Văn H, sinh năm 1956. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Võ Thị L là bị đơn và ông Phong Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Người kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31/5/2023 ông Trần Văn D và bà Đặng Thị Hồng C trình bày:
Vào ngày 13/4/2010 vợ chồng ông D, bà C có nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Võ Thị L, ông Phong Văn H phần đất diện tích 4,7 công (theo đo đạc thực tế có diện tích 5.986,2m²) tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau với giá chuyển nhượng 12.000.000 đồng/01 công (tầm 03m). Tổng số tiền chuyển nhượng đất là 56.548.000 đồng. Khi chuyển nhượng hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/4/2010 do ông D với bà L ký tên và bà L nhận số tiền 10.000.000 đồng. Đến ngày 12/5/2010 bà L nhận số tiền còn lại 46.548.000 đồng. Ông H là người trực tiếp đo đạc đất giao cho vợ chồng ông D, bà C quản lý sử dụng từ năm 2010 đến nay. Do bà C và bà L có mối quan hệ thân tộc (bà C gọi bà L là cô) nên hai bên chỉ lập hợp đồng chuyển nhượng mà không có công chứng, chứng thực. Khi chuyển nhượng bà L cho rằng phần đất chuyển nhượng chưa được cấp QSD đất. Đến khoảng năm 2023 vợ chồng ông D yêu cầu bà L thực hiện thủ tục để vợ chồng ông D được đứng tên phần đất đã chuyển nhượng năm 2010 thì phát hiện phần đất đã được cấp QSD đất đứng tên Phong Văn H và đã thế chấp vay tiền ngân hàng.
Nay, ông D, bà C yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông D với vợ chồng bà L, ông H để vợ chồng ông D có cơ sở làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa ông Kim Chan Đa R là người nhận ủy quyền của bà Võ Thị L trình bày:
Bà L thừa nhận vào năm 2010 có chuyển nhượng cho vợ chồng ông D, bà C phần đất diện tích theo đo đạc thực tế 5.986,2m², tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau với tổng giá trị là 56.548.000 đồng. Bà L là người ký tên và nhận tổng số tiền do vợ chồng ông D, bà C giao là 56.548.000 đồng. Đồng thời, bà L có giao vợ chồng ông D, bà C quản lý sử dụng phần đất từ tháng 5/2010 đến nay, nhưng ông H không biết là chuyển nhượng mà chỉ biết là cố cho vợ chồng ông D, bà C. Số tiền bà L nhận 56.548.000 đồng sử dụng vào việc trả nợ, ông H không có sử dụng.
Nay bà L yêu cầu được chuộc lại phần đất với diện tích theo đo đạc thực tế diện tích 5.986,2m² bà thống nhất hoàn trả cho vợ chồng ông D, bà L số tiền đã nhận là 56.548.000 đồng và tính lãi suất 9%/năm kể từ năm 2010 đến nay. Bởi vì, phần
đất bà L chuyển nhượng do ông H đứng tên và ông H không thống nhất chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông D, bà C; hợp đồng chuyển nhượng đất thực hiện không đúng quy định pháp luật, ông H không có ký tên chuyển nhượng đất.
Đối với hợp đồng vay tiền giữa ông H và Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T do chưa đến hạn thanh toán nợ, tài sản thế chấp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của ông H nên bà L không thống nhất thanh toán nợ theo yêu cầu của ngân hàng.
Tại phiên tòa ông Phong Văn H trình bày:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do vợ chồng ông H, bà L nhận chuyển nhượng, diện tích theo đo đạc thực tế 5.986,2m² đất tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau do ông H đứng tên thuộc thửa 0319 tờ bản đồ số 10 với diện tích 6.500m². Phần đất này ông H, bà L đã thế chấp vay tiền tại ngân hàng N chi nhánh huyện T đến nay chưa thanh toán nợ.
Phần đất tranh chấp vợ chồng ông D quản lý từ năm 2010 đến nay. Lúc giao đất cho vợ chồng ông D quản lý sử dụng thì ông H có nghe bà L nói là cố cho vợ chồng ông D nhưng ông H không biết thời gian cố đất và số tiền nhận bao nhiêu. Bởi vì ông H không có sử dụng tiền cố đất mà do bà L trực tiếp nhận để trả nợ thiếu do làm ruộng thất bác thiếu nợ trước đó. Lúc bà L thông báo cố đất cho vợ chồng ông D thì ông H đồng ý vì phần đất không có đường nước nên không sử dụng được. Đến khoảng năm 2013 ông H nghe bà L nói phần đất giao vợ chồng ông D quản lý sử dụng năm 2010 không phải là cố đất mà là chuyển nhượng đất.
Nay ông H không thống nhất việc chuyển nhượng đất của bà L vì đất đứng tên của ông H, ông H không có ký tên hợp đồng chuyển nhượng, không có nhận tiền của vợ chồng ông D giao. Vì vậy ông H yêu cầu vợ chồng ông D trả lại đất cho ông H tiếp tục quản lý sử dụng với diện tích theo đo đạc thực tế là 5.986,2m²; ông H thống nhất cùng bà L hoàn lại cho vợ chồng ông D số tiền bà L đã nhận là 56.548.000 đồng và lãi suất 9%/năm kể từ năm 2010 đến nay.
Tại phiên tòa bà Huỳnh Thị Q trình bày:
Hiện nay bà Q và chồng là ông Võ Văn Đ đang cố phần đất tranh chấp giữa vợ chồng ông D, bà C với bà L. Thời hạn cố đất là 03 năm, kể từ năm 2023 đến năm 2025 với số tiền là 300.000.000 đồng. Tuy nhiên bà không yêu cầu giải quyết tại vụ án đối với hợp đồng cố đất giữa vợ chồng bà Q và vợ chồng ông D.
Tại đơn yêu cầu ngày 29/02/2024, ngày 15/5/2024 Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T trình bày:
Hồ sơ vay vốn của ông Phong Văn H vào ngày 12/9/2023, thời hạn trả cuối cùng vào ngày 10/9/2024 với số tiền vay vốn 360.000.000 đồng. Tính đến ngày 17/5/2024 thì tổng số tiền nợ vốn và lãi là 374.197.808 đồng. Tài sản thế chấp là phần đất tổng diện tích 27.360m² thuộc thửa đất số 319, 323, 306, 330, 909, 910 tờ bản đồ số 01 theo hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 38977 ngày 21/8/2014 giữa ngân hàng với người đại diện (chủ hộ) là ông Phong Văn H kí hợp đồng.
Trường hợp trong quá trình xét xử có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ và tài sản
thế chấp để vay vốn tại ngân hàng thì ngân hàng yêu cầu hộ vay vốn phải thanh toán nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký với ngân hàng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D và bà Đặng Thị Hồng C về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/4/2010 giữa vợ chồng ông Trần Văn D, bà Đặng Thị Hồng C với bà Võ Thị L, ông Phong Văn H. Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 38977 ngày 21/8/2014 với diện tích theo đo đạc thực tế 5.986,2m² đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Giao ông Trần Văn D, bà Đặng Thị Hồng C được tiếp tục quản lý sử dụng và đăng ký quyền sử dụng đất phần đất diện tích 5.986,2m², đất tọa lạc tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau theo bản vẽ hiện trạng ngày 19/12/2023 của Công ty TNHH MTV T4 thuộc một phần thửa 150 tờ bản đồ số 15 (bản đồ chỉnh lý năm 2018). Phần đất có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau: Mặt tiền giáp phần đất bà Nguyễn Thị L1 có mốc M1M2 dài 33,86m; mặt hậu giáp phần đất ông Đặng Minh T có mốc M3M4 dài 34,24m; cạnh trái nhìn từ mặt tiền giáp phần đất của ông Quách Văn T1 có mốc M2M3 dài 176m; cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp phần đất bà Đặng Thị Hồng C có mốc M1M4 dài 176m.
Bà Võ Thị L và ông Phong Văn H có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Trần Văn D chi phí đo đạc, thẩm định và định giá với tổng số tiền 15.923.000đ (Mười lăm triệu chín trăm hai mươi ba nghìn đồng).
Buộc ông Phong Văn H và bà Võ Thị L thanh toán cho Ngân hàng N–Chi nhánh huyện T tổng số tiền tính đến ngày 17/5/2024 là 374.198.000 đ (Ba trăm bảy mươi bốn nghìn một trăm chín mươi tám nghìn đồng) theo hợp đồng vay ngày 12/9/2023 và phụ lục hợp đồng 12/9/2023. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý nợ theo hợp đồng thế chấp số 38977 ngày 21/8/2014 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T với ông Phong Văn H đã được điều chỉnh hủy một phần hợp đồng thế chấp với diện tích 5.986,2m² và các hợp đồng khác có liên quan (nếu có).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất do chậm thi hành, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phong Văn H kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đề nghị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024 bị đơn bà Võ Thị L kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Hồ Vũ P không đồng ý với yêu cầu kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn bà Võ Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phong Văn H không đồng ý với bản án sơ thẩm, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau giữ nguyên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn trong hạn luật định.
[2] Xét nguồn gốc phần đất chuyển nhượng là do ông Phong Văn H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích chuyển nhượng đo đạc thực tế là 5.986,2m² theo chứng thư thẩm định giá là 425.000.000 đồng, thuộc thửa số 319 diện tích trên giấy là 6.500m².
[3] Xét về điều kiện, trình tự thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên không lập theo mẫu, không được công chứng, chứng thực, khi chuyển nhượng phần đất chỉ làm biên nhận, nhận tiền ngày 13/4/2010 và ngày 12/5/2010 viết tay do bà L và ông D ký, ngoài ra không có giấy tờ chứng cứ nào khác nội dung là biên nhận nhận số tiền và hứa chuyển nhượng đất. Như vậy đây không phải là hợp đồng chuyển nhượng, mà số tiền nhận là hứa chuyển nhượng, sau khi nhận tiền bà L giao đất cho ông D, bà C canh tác sử dụng được vài năm thì ông D, bà C tiếp tục cố cho ông Đ, bà Q cho đến nay nhưng việc cố đất các bên chỉ nói miệng và cũng không có hợp đồng cụ thể. Phần đất chuyển nhượng đã được ông P thế chấp cho Ngân hàng N chi nhánh huyện T, cụ thể là Phòng giao dịch T2 Phải vào năm 2008. Đến năm 2014 xóa thế chấp và đăng ký thế chấp lại cùng ngày cho đến nay. Án sơ thẩm tuyên công nhận hợp đồng và hủy một phần tài sản thế chấp là chưa có căn cứ.
Ông H cho rằng ông không có chuyển nhượng đất, nên ông không có ký tên bất cứ giấy tờ gì cho ông D, cũng không nhận tiền của ông D, ông chỉ nghe bà L nói là có cố phần đất cho ông D. Đến năm 2013 thì ông mới phát hiện là bà L chuyển nhượng. Bà L xác định có nhận số tiền của ông D, ông D đưa giấy biên nhận cho bà ký, số tiền nhận bà sử dụng vào việc chi trả khoản nợ chung của gia đình, ông H không biết. Tuy phần đất chuyển nhượng đứng tên của ông H nhưng nguồn gốc là của vợ chồng cùng tạo lập, việc chuyển nhượng do bà L tự giao dịch ký kết. Nguyên đơn nhận đất sử dụng cho là chuyển nhượng nhưng bị đơn cho là cố. Đối chiếu với
biên nhận nhận tiền là hứa sang đất nên có dấu hiệu là việc cố đất chứ không phải là chuyển nhượng.
[4] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của đôi bên không đúng quy định về mặt hình thức, đến nay phần đất cũng chưa được đăng ký chuyển tên cho ông D, bà C. Vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp cho Ngân hàng, việc các bên chuyển nhượng tài sản thế chấp nhưng chưa được sự đồng ý của Ngân hàng nên hợp đồng chuyển nhượng đất của các bên là vô hiệu. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng.
Việc xác định lỗi dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu là do lỗi của bị đơn. Bởi vì bên nhận chuyển nhượng không biết phần đất chuyển nhượng đã thế chấp cho Ngân hàng, bị đơn đã che giấu việc thế chấp và đối chiếu biên nhận nhận tiền chỉ là hứa sang đất. Do hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Do tại biên nhận ngày 13/4/2010 là biên nhận nhận tiền hứa sang đất, không phải là trị giá hợp đồng nên số tiền bà L đã nhận là 56.548.000 đồng được tiếp tục tính lãi, theo mức lãi suất không quá 20%/năm tương đương mức lãi suất là 1,66%/tháng. Được tính từ ngày 12/5/2010 đến ngày hôm nay là 20/8/2024 bằng 14 năm 03 tháng 08 ngày. Như vậy 56.548.000 đồng x 1,66%/tháng x (171 tháng 08 ngày) = 160.767.000 đồng tiền lãi + vốn là 56.548.000 đồng = 217.315.000 đồng, buộc bà L phải chịu.
Theo bà L xác định số tiền bà nhận chuyển nhượng của ông D được sử dụng vào việc trả nợ chung của vợ, chồng. Giữa ông H và bà L là quan hệ vợ chồng, hôn nhân vẫn còn tồn tại, ông H cho là biết việc cố đất nên ông H, bà L cùng có trách nhiệm trả lại cho ông D, bà C.
[5] Hiện nay phần đất tranh chấp do ông D, bà C1 đã cố cho ông Đ, bà Q. Tuy nhiên, chưa có căn cứ thể hiện đây là phần đất nhận chuyển nhượng là của ông D, bà C nhưng ông, bà lại cố cho bà Q và ông Đ là không được thừa nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm và tại biên bản thẩm định bà Q xác định ông D, bà C cố đất cho bà Q, ông Đ nhưng không chứng cứ gì thể hiện. Bà Q, ông Đ xác định không có yêu cầu gì đối với vụ án và tự thỏa thuận với ông D, bà C. Do đó tách ra, khi nào bà Q, ông Đ có tranh chấp với ông D, bà C thì yêu cầu thành vụ án khác. Do bà Q, ông Đ đang quản lý đất nên buộc ông Đ, bà Q phải giao phần đất lại cho ông H, bà L để xử lý nợ cho Ngân hàng nếu ông H, bà L không thanh toán cho Ngân hàng.
[6] Đối với hợp đồng thế chấp ngày 21/8/2014 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 125-131), hợp đồng tín dụng ngày 12/9/2023 và phụ lục hợp đồng ngày 12/9/2023 (BL 132-135) thì thời hạn trả cuối cùng của hồ sơ vay vốn Phong Văn H là vào ngày 10/9/2024. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa xét thấy:
Đương sự thừa nhận phần đất tranh chấp thuộc thửa 319 tờ bản đồ số 10 quyền sử dụng đất do ông Phong Văn H đứng tên, hiện ông H đang thế chấp theo hợp đồng thế chấp lập ngày 21/8/2014 để vay tiền, nên bà L không thực hiện được thủ tục chuyển tên cho vợ chồng ông D, bà C. Hợp đồng tín dụng ngày 12/9/2023 tính đến ngày 17/5/2024 thì số tiền vay ông H nợ là 374.197.808 đồng và được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là hợp đồng bảo đảm số 38977 ngày 21/8/2014 nên có căn cứ xác
định phần đất tranh chấp với diện tích 5.986,2m² là thuộc thửa 319 tờ bản đồ số 10 và là tài sản thế chấp có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ. Nên buộc ông H, bà L có nghĩa vụ thanh toán nợ Ngân hàng tính đến ngày 17/5/2024 là 374.198.000 đồng và phần lãi theo hợp đồng tín dụng. Nếu ông bà không thanh toán Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết.
[7] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị hủy bản án sơ thẩm do: Về nội dung án sơ thẩm công nhận hợp đồng là không đúng, do đất đã thế chấp. Về tố tụng án sơ thẩm đưa Phòng G tham gia tố tụng là chưa đúng và không có ủy quyền của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T.
Xét thấy: Bản án sơ thẩm tại phần tiêu đề bản án và biên lai dự nộp án phí đều ghi Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T. Phần quyết định buộc ông H, bà L thanh toán cho Ngân hàng và xử lý tài sản thế chấp cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T. Tại quyết định số 2965/QĐ-NHNo-PC ngày 27/12/2019 của Ngân hàng N về việc ủy quyền: “người được ủy quyền thường xuyên được ủy quyền lại cho Trưởng phòng, Giám đốc Phòng giao dịch, Cán bộ pháp chế. Thấy rằng: Ông Cao Minh T3 là Giám đốc của Phòng G được thừa ủy quyền của Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T. Do việc sửa bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo hướng không công nhận hợp đồng chuyển nhượng phần đất của ông D và bà L cũng không ảnh hưởng quyền lợi của Ngân hàng nên không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, nhưng cấp sơ thẩm cũng cần phải rút kinh nghiệm.
[8] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phong Văn H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
[9] Đối với chi phí thẩm định, định giá tài sản: Nguyên đơn ông Trần Văn D nộp chi phí đo đạc là 8.923.000 đồng, chi phí định giá là 7.000.000 đồng. Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải tự chịu, đã nộp xong.
[10] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà L, ông H phải chịu 10.865.000 đồng. Do bà L, ông H là người cao tuổi và có đơn xin miễn, nên được miễn án phí sơ thẩm. Ông Trần Văn D bà Đặng Thị Hồng C phải nộp án phí số tiền 300.000 đồng, đã dự nộp được chuyển thu. Ngân hàng N chi nhánh huyện T không phải nộp, được nhận lại.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà L, ông H không phải nộp do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí phúc thẩm.
[12] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, khoản 2 Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc 5.986,2m² tại ấp F, xã T, huyện T giữa ông Trần Văn D và bà Võ Thị L là vô hiệu.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Võ Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phong Văn H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 51/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D và bà Đặng Thị Hồng C về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng phần đất thửa số 319 tờ bản đồ số 10 diện tích đo đạc thực tế 5.986,2m² tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau với bà Võ Thị L (Theo bản đo vẽ ngày 19/12/2023 của Công ty TNHH MTV T4).
- Buộc ông Võ Văn Đ, bà Huỳnh Thị Q giao trả lại cho ông Phong Văn H, bà Võ Thị L phần đất thửa số 319 tờ bản đồ số 10 diện tích đo đạc thực tế 5.986,2m² tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Buộc ông Phong Văn H và bà Võ Thị L thanh toán cho Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T tổng số tiền tính đến ngày 17/5/2024 là 374.198.000 đồng (Ba trăm bảy mươi bốn triệu một trăm chín mươi tám nghìn đồng) theo hợp đồng vay ngày 12/9/2023 và phụ lục hợp đồng 12/9/2023.
- Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Đối với chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông Trần Văn D nộp chi phí đo đạc là 8.923.000 đồng, chi phí định giá là 7.000.000 đồng. Ông Trần Văn D, bà Đặng Thị Hồng C phải tự chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá (Đã nộp xong).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phong Văn H, bà Võ Thị L không phải chịu, được miễn dự nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do là người cao tuổi.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 319 tờ bản đồ số 10 diện tích đo đạc thực tế 5.986,2m² tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau giữa ông Trần Văn D với bà Võ Thị L là vô hiệu.
Buộc ông Phong Văn H và bà Võ Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn D, bà Đặng Thị Hồng C số tiền 217.315.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 17/5/2024, ông Phong Văn H và bà Võ Thị L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý nợ hợp đồng thế chấp số 38977 ngày 21/8/2014 giữa Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T với ông Phong Văn H theo hợp đồng thế chấp đối với phần đất diện tích đo đạc thực tế 5.986,2m².
Bà Võ Thị L và ông Phong Văn H phải chịu án phí bị buộc trả. Do thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải nộp.
Ông Trần Văn D, bà Đặng Thị Hồng C phải chịu án phí 300.000 đồng. Ngày 31/5/2023, ông D và bà C đã dự nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0003662 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu.
Ngân hàng N – Chi nhánh huyện T không phải chịu án phí. Ngày 15/3/2024, Ngân hàng đã dự nộp 9.137.000 đồng theo biên lai số 0016054 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Hùng Quang |
Bản án số 320/2024/DS-PT ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 320/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận 1 phần kháng nghị, chấp nhận kháng cáo. Sửa bản án sơ thẩm
