TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NÔI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 320/2024/HS-PT
Ngày 16 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nam;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển;
Ông Nguyễn Xuân Điền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 16 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 1140/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Mông Việt H bị kết án về tội “Giết người”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 98A/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Mông V, sinh 14/03/2003. HKTT: Thôn Đ, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Mông Đức T, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị H1, sinh năm 1983; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/02/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo H (do Tòa án chỉ định): Luật sư Phạm Tuấn A, Công ty L, đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Mông Đức T, sinh năm 1980. HKTT: Thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người đại diện hợp pháp của bị hại không có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mông Việt Hoàng và anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm 2001) cùng làm công nhân tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn J, Khu Công Nghiệp Q, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Tháng 8/2022, H thuê phòng trọ số 05, tầng 2 trong khu nhà trọ thứ 2 của gia đình anh Nguyễn Tài V tại khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Đến tháng 9/2022, anh H2 đến ở cùng phòng với H.
Khoảng 17 giờ ngày 20/10/2022, anh H2 cùng H đi làm ca ngày tại Công ty J, tan ca anh H2 hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen, biển kiểm soát 20L4 - 4140 của H để đi về trước, H đồng ý và bảo anh H2 hết giờ tăng ca đến đón H về, anh H2 đồng ý. H làm việc đến 20 giờ 30 phút cùng ngày nhưng không thấy anh H2 đến đón. H gọi điện thoại cho anh H2 nhiều lần nhưng không được nên H đi bộ từ Công ty về phòng trọ ở khu G. Khi về đến phòng trọ, H không thấy anh H2 ở phòng trọ, cửa phòng trọ vẫn khoá ngoài. H tiếp tục gọi điện thoại và nhắn tin cho anh H2 với mục đích hỏi xe mô tô của H và anh H2 đang ở đâu nhưng anh H2 không trả lời. Sau đó, H gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn N (là bạn của H và anh H2) đang thuê trọ tại khu D, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh để hỏi xem anh H2 ở đâu nhưng anh N không biết. Anh N gọi điện thoại cho anh H2 thì biết anh H2 đang hát Karaoke ở khu G, phường P, thị xã Q còn địa chỉ cụ thể thì anh N không biết. H gọi điện thoại cho anh Lý Anh T1 (là con rể anh V - chủ nhà trọ) bảo anh T1 đi tìm anh H2 cùng với H. Anh T1 đi xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen, biển kiểm soát 20C1-251.96, chở H đi tìm anh H2. Khi đến khu vực Đ làng G thì gặp anh H2 đang đi bộ một mình trong tình trạng như say rượu (lúc này khoảng 23 giờ). H xuống xe, đi bộ cùng anh H2 về phòng trọ, còn anh T1 đi xe mô tô phía sau, lúc này H dùng tay phải kẹp cổ anh H2 vào nách phải của H hỏi “Xe của tao đâu”, anh H2 không nói gì. Trên đường đi về, H hỏi anh H2 nhiều lần về xe mô tô của H nhưng anh H2 nói “Tao say quá” nhưng không nói xe mô tô của H đang để ở đâu. Khi về đến gần khu vực đầu ngõ khu nhà trọ, H hỏi nhiều lần nhưng anh H2 không nói, lúc này H đứng đối diện anh H2, dùng tay phải túm tóc, ghì đầu anh H2 cúi xuống nền đường, dùng chân trái đá liên tiếp 03 cái từ dưới lên trên trúng vào mắt, mũi làm anh H2 bị chảy máu mũi, vừa đá anh H2, H vừa hỏi “Xe của tao đâu” nhưng anh H2 vẫn không nói. H tiếp tục dùng tay phải khoác và kẹp vào cổ rồi lôi anh H2 cùng đi về khu nhà trọ thứ nhất của gia đình anh V, anh T1 đi vẫn xe mô tô phía sau H và anh H2. Khi H và anh H2 vào khu vực trong sân khu nhà trọ thứ nhất, H tiếp tục hỏi anh H2 về chiếc xe mô tô của H ở đâu thì anh H2 nói “Tao cho bạn mượn rồi”, H nói “Xe của tao mà mày mang đi cho người khác mượn à. B bạn mày lấy xe về cho tao, mai tao còn đi làm ”. Đồng thời, H đứng đối diện với anh H2 và dùng tay phải túm tóc, ghì đầu anh H2 xuống dưới đất, H dùng chân trái đá 01 cái từ dưới lên trên trúng vào mặt anh H2. Lúc này, anh T1 khuyên H không đánh anh H2 nữa và bảo Hoàng đưa anh H2 về phòng trọ tránh ồn ào, làm ảnh hưởng đến người khác. H đồng ý và dùng tay trái túm cổ áo, kéo anh H2 đi bộ về phòng trọ của H.
Khi về đến khu nhà trọ H thuê, lúc này cổng ngoài đang khoá, anh H2 ngồi bệt xuống đất, lưng quay vào cánh cổng, hai tay khoanh lên trên hai đầu gối. H đứng đối diện anh H2 tiếp tục hỏi và yêu cầu anh H2 lấy xe về trả cho H. Anh H2 lấy điện thoại và gọi cho ai đó nhưng không được. H tức giận và dùng chân phải đạp thẳng 01 cái từ trên xuống dưới trúng vào phần đầu của anh H2 làm anh H2 bị ngã ngửa về phía sau, đầu đập vào cánh cổng. H tiếp tục dùng hai chân đá nhiều lần vào phần đầu và phần mặt của anh H2. Sau đó, anh H2 lấy điện thoại gọi cho bạn, anh H2 nói “Bạn ơi, tý tôi ra lấy xe, bạn cho tôi ngủ ở đấy nhé”, nhưng bạn anh H2 không nói gì và tắt máy. H tiếp tục dùng chân phải đạp theo chiều từ trên xuống, đá theo chiều từ trái sang phải, ngược lại và dùng tay phải vả nhiều cái vào vùng đầu, mặt, người anh H2. Lúc này, anh T1 gọi điện thoại cho anh Phạm Văn H3 (sinh năm 1994) đến và cùng anh T1 đi tìm xe mô tô cho anh H2. Trong lúc này, H tiếp tục dùng chân phải đạp khoảng 03 đến 04 cái vào đầu anh H2. Khoảng 10 phút sau, anh T1 và anh H3 về nhưng không tìm thấy xe mô tô của H. H lại tiếp tục dùng chân phải đạp thẳng liên tiếp 02 đến 03 cái từ trên xuống dưới vào mặt, đầu anh H2 làm anh H2 bị ngã, H tiếp tục đạp thêm 02 đến 03 cái nữa vào đầu anh H2. Anh T1 và anh H3 nói H không đánh anh H2 nữa và bảo Hoàng đưa anh H2 về phòng trọ. Lúc này, anh Cầm Bảo S (là người thuê phòng cùng khu trọ với H) nghe thấy tiếng ồn ào thì ra xem, thấy H và anh H2 đang ở cổng thì anh S lấy chìa khoá mở cổng cho H và anh H2 vào khu nhà trọ lúc này khoảng hơn 23 giờ cùng ngày. Sau đó anh H3 đi về, anh T1 và anh H2 đi bộ lên phòng trọ để ngủ. Khi vào phòng, anh H2 cởi áo, nằm ngủ trên chiếu trải dưới nền phòng trọ, H lấy chăn đắp cho anh H2, anh H2 bảo Hoàng đóng cửa thì H khóa cửa ngoài, sang phòng của anh T1 và ngủ tại đó.
Khoảng 06 giờ ngày 21/10/2022, H về phòng trọ thấy anh H2 vẫn đang nằm ngủ đắp chăn trên chiếu dưới nền phòng trọ, tại vị trí gần cửa ra vào chỗ anh H2 nằm có chất dịch nhầy màu đỏ. H gọi anh H2 nói "Mày không dậy tìm xe cho tao à”, anh H2 không nói gì. Lúc này, H dùng tay phải túm tóc và dựng anh H2 ngồi dậy, lưng tựa vào tường sát cửa ra vào, H dùng chân trái đá 01 cái vào phần đầu bên phải anh H2, anh H2 nói “Tao mệt, mày cho tao nằm nghỉ tỷ”, nên H để anh H2 tiếp tục ngủ. H không khóa cửa và đi sang phòng anh T1, cùng anh T1 đi tìm xe mô tô của H tại các quán Karaoke thuộc khu G, phường P, thị xã Q. Khi đến quán Karaoke "Mạnh H4” do anh Nguyễn Tài Đ, sinh năm 1970, HKTT tại khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh làm chủ thì phát hiện xe mô tô của H để ở đây. H hỏi anh Đ thì được biết tối ngày 20/10/2022, anh H2 đi xe mô tô của Hoàng đến quán Karaoke của anh Đ hát Karaoke, do thiếu 1.000.000 đồng nên để lại chiếc xe mô tô của H làm tin. H đi đến quán Internet gần quán K” ngồi chơi, còn anh T1 về đi làm. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H về phòng trọ thấy anh H2 vẫn nằm ngủ đắp chăn trên chiếu, H gọi anh H2 dậy nhưng không thấy anh H2 trả lời, H mở chăn ra, đỡ anh H2 ngồi dậy thì thấy anh H2 lơ mơ, người mềm. H chạy ra đầu ngõ gọi người xe ôm H không biết tên, địa chỉ, biển số xe mô tô của người xe ôm này vào và đưa anh H2 đến Trạm Y tế phường P kiểm tra; sau đó, H đưa anh H2 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu, điều trị. 15 giờ cùng ngày 21/10/2022, H đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q tự thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình đã nêu trên và giao nộp 01 đôi dép lê màu trắng, cỡ dép 38, kích thước (26 x 10) cm, mặt ngoài phía trên có in họa tiết màu đen, đã qua sử dụng. Anh H2 điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 21/10/2022 đến ngày 25/10/2022 thì tử vong.
* Khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại dãy nhà trọ 02 tầng của gia đình anh Nguyễn Tài V, sinh năm 1976, HKTT tại khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh được xây dựng bằng tường gạch, phía trên lợp tôn chống nóng, màu sơn vàng, hướng N, có các hướng tiếp giáp như sau: Hướng Bắc tiếp giáp nhà Tuấn V1, hướng Nam tiếp giáp nhà H, hướng Đông tiếp giáp mảnh đất trống nhà Toan Ê, hướng Tây tiếp giáp đường bê tông trong ngõ khu G và nhà T. Dãy nhà trọ 02 tầng, mỗi tầng có 04 phòng trọ được đánh số thứ tự, từ phòng số 01 đến phòng số 08, tầng 01 gồm 04 phòng, Phòng 1 và Phòng 4 theo hướng Tây - Đông; tầng 2 gồm 04 phòng còn lại Phòng 5 và Phòng 8 theo hướng Tây - Đông. Phía trước mặt tầng 01 là sân rộng 2,3 mét ốp gạch màu đỏ dọc theo dãy trọ; phía trước mặt ban công tầng 2 là ban công rộng 1,05 mét ốp gạch màu vàng nhạt và lan can bằng kim loại cao 1,2 mét. Từ ngoài, đường bê tông trong ngõ đi vào dãy nhà trọ và cạnh phòng trọ số 1 tầng 1 là cổng ra vào gồm 2 cánh cổng mở vào trong ở trong tình trạng mở, hai cánh bằng khung kim loại màu xám, bên ngoài không thể nhìn vào bên trong, kích thước cổng là (1,6 x 2,5) mét; phía cuối dãy nhà trọ giáp phòng số 4 là khu vực cầu thang lên xuống tầng 2. Hiện trường phòng trọ xảy ra vụ việc là phòng số 05 thuộc tầng 02 khu nhà trọ, phía Đông giáp phòng số 6, phía Tây giáp ban công và đường bê tông trong ngõ, trên tường phía trên cửa ra vào có ghi chữ số 5 màu trắng, phòng gồm 01 cửa chính ra vào ở trên tường phía Nam, cửa màu xám mở vào trong, kích thước (0,79 x 2)m, bên ngoài cánh cửa cách nền 0,95m có 01 chốt ngang ở tình trạng mở cùng 01 chiếc khóa Việt Tiệp màu đen, móc khóa màu trắng, ổ khóa cắm 01 chìa khóa. Bên trong phòng, phòng rộng (2,8 x 5)m, nền lát gạch màu vàng nhạt, được bố trí sắp xếp như sau: Giáp tường phía Bắc và góc tường phía Đông Bắc là khu vực nhà vệ sinh; giáp tường nhà vệ sinh và tường phía Đông của phòng là vị trí chiếc giường đôi bằng khung kim loại kích thước (1,55 x 1,8)m, trên mặt giường trải 01 chiếc chiếu màu xám trắng, giáp tường phía Đông và trên mặt chiếu là chiếc chăn hồng; giáp tường phía Đông và chiếc giường là vị trí chiếc bàn bằng khung kim loại kích thước (0,8 x 0,39 x 0,74)m, trên mặt bàn có các vật dụng cá nhân; trên nền nhà giáp tường phía Tây và cách giường 30cm là vị trí chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh kích thước (2 x 1,5)m. Xem chi tiết phòng phát hiện các dấu vết, đồ vật sau: Trên nền phòng giáp tường phía Nam vả cách tường phía Tây 0,9 mét phát hiện vùng chất màu nâu đỏ dạng ướt, kích thước (45 x 45) cm, vùng chất màu nâu đỏ này ngấm vào một phần của chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh diện (17 x 45) cm, vùng chất màu đỏ này ký hiệu vị trí số (1). Trên nền phòng cách tường phía Nam là 13cm và cách tương phía Tây là 31cm phát hiện chất màu nâu đỏ đã khô kích thước (5,5 x 3) cm, kí hiệu vị trí số (2). Vị trí số (2) cách vị trí số (1) là 59cm; Trên mặt chiếc chăn hồng đỏ vàng được đặt trên bề mặt chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh phát hiện chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, ốp lưng màu đỏ (không kiểm tra chi tiết bên trong), kí hiệu vị trí số (3); Vị trí số (3) cách tường phía Tây 21 cm và cách tường phía Nam là 58 cm. Tại mặt chiếu nhựa màu đỏ, trắng, vàng, xanh phát hiện 01 ví màu đen, kích thước (20 X 8,5) cm cạnh chiếc chăn màu hồng đỏ vàng, kí hiệu vị trí số (4), vị trí số (3) cách vị trí số (4) là 23cm, vị trí số 4 cách tường N là 80cm, cách tường T2 là 50cm. Trên bề mặt chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh và giáp tường phía Tây là vị trí chiếc chăn hồng độ vàng có kích thước (2 x 1,5)m, kiểm tra chiếc chăn không phát hiện dấu vết gì. Trên bề mặt giường đôi cách tường nhà tắm 37cm và cách tường phía Tây 1,15m là vị trí chiếc quần đùi màu đen, hai sườn kẻ trăng kí hiệu vị trí số (6); giáp tường phía Bắc và giáp cửa vào nhà vệ sinh là vị trí thùng rác, trong thùng rác phát hiện 01 chiếc quần vải dài màu đen, trên bề mặt bám dính nhiều chất màu nâu đỏ đã khô; 01 chiếc áo cộc tay màu xám, cổ áo, hai ống tay màu đỏ trắng xanh, trên bề mặt áo bám dính nhiều chất màu nâu đỏ đã khô, 01 chiếc áo nhiều hoa văn màu xanh, hai ống tay màu trắng, trên bề mặt áo rải rác có bám dính nhiều chất màu đỏ đã khô. Thùng rác kí hiệu vị trí số (7).
Mở rộng hiện trường tại vị trí cạnh cổng ra vào khu nhà trọ là dốc thoải giữa sân với đường, gồm hai cánh cổng bằng kim loại, mở vào trong kích thước mỗi cánh là (2,2 x 0,8)m; vị trí H dùng chân đạp 04 cái vào đầu, đá 02 cái vào mặt mũi và tát 01 cái vào má của H2, kí hiệu vị trí số (8), vị trí số (8) cách cột điện dân dụng Quế Võ A Liễu là 1,2m.
Mở rộng hiện trường ở sân dãy nhà trọ cấp 4 màu xanh giáp, nhà ở của anh Nguyễn Tài V vị trí H dùng chân trái đá hai cái trúng vào mắt phải, mũi của H2, kí hiệu vị trí số (9); vị trí số (9) cách cửa phòng số (2) dãy nhà trọ một tầng là 80cm và cách cổng dãy nhà trọ 5,8m, vị trí số (9) cách vị trí số (8) là 5,8 x 6,5m.
Mở rộng hiện trường trên trục, đường bê tông trong ngõ T về phía Nam là vị trí H dùng chân trái đá 03 cái trúng vào mắt phải, mũi của anh H2, kí hiệu vị trí số (10), vị trí số (10) cách tường bên phải đường bê tông 40 cm và cách đường nhựa khu G 10 mét, vị trí số (10) cách vị trí số (9) là 120 x 5,8m.
Quá trình khám nghiệm phát hiện 02 Camera: 01 mắt Camera bên trong khu nhà trọ H và anh H2 thuê trọ gắn trên tường và sát bờ tường phía Nam, cách cổng ra vào 4m, cách mặt đất 3,3m, mắt Camera hướng về phía cổng ra vào. Mắt Camera còn lại của gia đình anh Nguyễn Văn H5, sinh năm 1991, HKTT tại khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh được gắn trên tường phía ngoài cổng bên phải, cách mặt đất 3,65m, cách cổng khu nhà trọ của H và anh H2 là 21m, mắt Camera hướng về phía khu nhà trọ của H và anh H2.
* Khám nghiệm tử thi: anh Nguyễn Văn H2 cao 1,69 mét, thể trạng bình thường, tình trạng tử thi xác cứng, hoen tử thi màu đỏ tím tập trung mặt sau cơ thể. Tử thi không mặc quần áo, miệng đặt ống nội khí quản, mũi đặt thông dạ dày và đặt xông tiểu.
Các dấu vết, tổn thương trên cơ thể:
Phù mềm bàn tay, bàn chân, vùng đùi và mặt trong cánh tay có nhiều đám xuất huyết. Sưng, nề, bầm tụ máu vùng thái dương phải diện (10x9)cm. Vùng trán thái dương bên phải cách đường giữa 2,5cm các dưới đường chân tóc chán 2cm đến vùng gò má bên phải có một số vết sây sát bầm tụ máu diện (9 x 6)cm, có vết sây sát da bầm tụ máu đã khô mặt và đóng vẩy. Vùng đỉnh chẩm bên trái đến vùng thái dương trái cách đường giữa 4cm, trên đường chân tóc gáy 9cm có diện phù nề diện (13x11)cm. Vùng thái dương bên trái cách đường giữa 9cm và ngay sau đường chân tóc có diện sây sát da bầm tụ máu, kích thước (8 x 6)cm, các vết xây xát da đã khô mặt và đóng vảy. Bầm tụ máu vành tai trái diện (4 x 5)cm. Ngay sát dưới cung lông mày bên trái có vết rách da đã được khâu dài 04cm, bầm tụ máu mặt trái diện (7 x 6)cm. Vùng gò má trái có vết xây xát da kích thước (4 x 2,5)cm, bề mặt đã khô và đóng vảy. Hai lỗ tai khô, hai lỗ mũi, miệng có ít dịch màu nâu chảy ra khi thay đổi tư thế. Môi tái nhợt, răng, lợi, lưỡi không phát hiện tổn thương. Ngực vững, vùng cổ, ngực, bụng không phát hiện tổn thương. Mặt sau khuỷu tay phải có vết xây xát da bầm tụ máu kích thước (2,5 x 3)cm, vết xây xát da đã khô mặt và đóng vẩy; mặt sau cổ tay phải đến mu bàn tay có diện bầm tụ máu không liên tục kích thước (8 x 4)cm. Mặt sau 1/3 dưới cánh tay trái đến khuỷu tay có vết biến đổi màu da màu tím hình chữ nhật kích thước (1,4 x 3,5)cm; mặt sau cổ tay trái đến mu bàn tay có diện bầm tụ máu không liên tục kích thước (7,5 x 4)cm. Mặt đốt hai ngón 3, 4 bàn tay trái (mặt sau) có diện xây xát da, bầm tụ máu không liên tục, kích thước (2,5 x 2)cm, bề mặt vết xây xát da đã khô mặt và đóng vảy. Khung chậu vững, bộ phận sinh dục không phát hiện tổn thương. Mặt trước ngoài ngón 1 bàn chân phải có diện xây xát da kích thước (4 x 2) cm, bề mặt vết xây xát đã khô. Vùng lưng không phát hiện tổn thương.
Ngày 26/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 295/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định nguyên nhân chết, cơ chế hình thành dấu vết thương trên cơ thể anh Nguyên Văn H6 (BL102).
Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 1780/KL-KTHS ngày 04/11/2022, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
-Nguyên nhân chết của anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 2001, HKTT: Đ, C, Y, Tuyên Quang là do chấn thương sọ não, phù não, dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn.
-Cơ chế hình thành dấu vết: Các vết xây xát da, bầm tụ máu trên cơ thể Nguyễn Văn H2 do vật tày tác động gây nên” (BL103,104)
Ngày 03/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định số 296/QĐ-TCGĐ trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B giám định nhóm máu:
Giám định chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường (ký hiệu Ml); Chất màu nâu đỏ bám dính trên chiếc quần dài màu đen thu tại hiện trường (ký hiệu M2); Chất màu nâu đỏ bám dính trên chiếc áo cộc tay màu xám thu tại hiện trường (ký hiệu M3); Chất màu nâu đỏ bám dính trên chiếc áo khoác nhiều hoa văn màu xanh thu tại hiện trường (ký hiệu M4); Một chiếc chăn màu đỏ vàng thu tại hiện trường (ký hiệu M5); Một chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh thu tại hiện trường (ký hiệu M6) và một chiếc quần đùi màu đen, hai bên sườn có viền kẻ màu trắng thu tại hiện trường (ký hiệu M7) có phải máu người không? Nếu là máu người có cùng nhóm máu với mẫu máu thu giữ của anh Nguyễn Văn H2 không? Trong chiếc chăn màu hồng đỏ vàng, chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh và chiếc quần đùi màu đen, hai bên sườn có viền kẻ màu trắng thu tại hiện trường vụ việc có bám dính máu người không? Nếu là máu người có cùng nhóm máu với mẫu máu thu giữ của anh Nguyễn Văn H2 không? (BL106).
Tại bản Kết luận giám định số 1801/KL-KTHS, ngày 11/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường (kí hiệu Ml) là máu người, nhóm máu 0, cùng nhóm máu với máu của anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 2001, HKTT: Thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Chất màu nâu đỏ (kí hiệu M2, M3, M4) thu tại hiện trường là máu người, nhóm máu O, cùng nhóm máu với máu của anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 2001, HKTT: Thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Trên các mẫu (kí hiệu M5, M6, M7) không phát hiện dấu vết máu.
Kèm theo kết luận: H7 lại các mẫu vật sau giám định gồm: 01 chiếc chăn màu hồng đỏ vàng thu tại hiện trường (kí hiệu M5), 01 chiếc chiếu nhựa màu đỏ trắng vàng xanh thu tại hiện trường (kí hiệu M6), 01 chiếc quần đùi màu đen, hai bên sườn cổ viền kẻ màu trắng thu tại hiện trường vụ việc (kí hiệu M7). Các mẫu vật khác đã sử dụng hết trong quá trình giám định” (BL107).
Ngày 23/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh đã lập biên bản kiểm tra dữ liệu Camera ghi hình do anh Nguyễn Văn H5 và anh Nguyễn Văn T3 cung cấp xác định Mông Việt H là người thực hiện hành vi phạm tội đối với anh Nguyễn Văn H2.
Ngày 21/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã ra Quyết định thực nghiệm điều tra số 01/QĐ-TNĐT diễn tả hành vi phạm tội của Mông Việt H xảy ra ngày 20/10/2022.
Ngày 01/03/2023 tại khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh phối hợp Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, người chứng kiến cho M Việt Hoàng thực nghiệm hành vi dùng chân đá, đạp, dùng tay tát anh Nguyễn Văn H2 tại các vị trí như H khai nhận. Kết quả bị can H đã thực hiện được và hướng dẫn người đóng thế thực hiện được toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai báo, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 98A/2023/HS-ST ngày 17/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh quyết định:
1. Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136, khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo M Việt Hoàng phạm tội “Giết người”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mông Việt H từ 13 năm (Mười ba) năm tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, các quyền và nghĩa vụ khác.
Ngày 19/8/2023, bị cáo Mông Việt H có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX xem xét ghi nhận bị cáo đã nộp được 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0000309 ngày 11/4/2024, tại cục Thi Hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, và 144.000.0000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng) tại giấy giao nhận tiền bồi thường thiệt hại giữa đại diện gia đình bị cáo và gia đình bị hại ghi ngày 11/9/2023, do bố bị cáo là ông Mông Đức T nộp thay bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm 6 tháng tù cho bị cáo.
Người bào chữa của bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo còn trẻ, thật thà khai nhận hành vi phạm tội của mình, đến nay đã nộp được hết khoản tiền án sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, đơn kháng cáo của bị cáo Mông Việt H làm đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận để xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mông Việt H thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Do bực tức về việc chiều ngày 20/10/2022, anh Nguyễn Văn H2 mượn xe mô tô của H để đi về trước, hẹn chiều sẽ đến đón H. Khi hết giờ làm, H không liên lạc được với anh H2 nên đã đi bộ từ Công ty về phòng trọ. Khi về nhà trọ, H gọi điện nhiều lần cho anh H2 nhưng không thấy anh H2 trả lời nên H đã đi tìm anh H2. Khoảng 23 giờ ngày 20/10/2022, khi thấy anh H2 đang đi bộ trên đường thuộc khu G, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh trong tình trạng say rượu thì H dùng tay phải túm tóc ghì đầu anh H2 xuống và đá 03 phát bằng chân trái theo hướng từ dưới lên trúng vào vùng mặt, mũi anh H2; sau đó, H nhiều lần hỏi anh H2 về xe mô tô của H ở đâu nhưng anh H2 không nói rõ cho H biết nên H tiếp tục dùng chân đá, đạp và dùng tay vả nhiều lần vào vùng đầu, mặt, người của anh H2 làm anh H2 bị chảy máu. Đến khoảng 06 giờ ngày 21/10/2022, H về phòng trọ thấy anh H2 vẫn đang nằm ngủ H gọi anh H2 dậy và yêu cầu đi tìm xe về cho H nhưng anh H2 không nói gì. Lúc này, H dùng tay phải túm tóc và dựng anh H2 ngồi dậy, lưng tựa vào tường sát cửa ra vào, H dùng chân trái đá 01 cái vào phần đầu bên phải anh H2. Đến khi anh H2 nói “Tao mệt, mày cho tao nằm nghỉ tý”, H dừng lại không đánh nữa. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H về phòng trọ thấy anh H2 vẫn nằm ngủ đắp chăn trên người, H gọi anh H2 dậy nhưng không thấy anh H2 trả lời, H đã gọi xe ôm đưa anh H2 đến Trạm Y tế phường P kiểm tra; sau đó, H đưa anh H2 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu, điều trị từ ngày 21/10/2022 đến ngày 25/10/2022 thì anh H2 tử vong. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo M Việt Hoàng phạm tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự, và quyết định về phần trách nhiệm dân sự, án phí là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mông Việt H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, và đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp tước đi mạng sống của con người được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong cộng đồng khu dân cư. Tính mạng con người là vô giá, thế nhưng chỉ vì những mẫu thuẫn nhỏ trong đời sống xã hội có thể giải quyết được, nhưng bị cáo đã coi thường tính mạng của anh H2 đã đấm, đá nhiều lần vào khu vực trọng yếu của cơ thể anh H2 làm cho anh H2 bị tử vong do bị chấn thương sọ não, phù não, dẫn đến suy hô hấp, suy tuần hoàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc làm của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên cần phải xử lý nghiêm minh để trừng trị, giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong đời sống xã hội là cần thiết.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã nộp được 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0000309 ngày 11/4/2024, tại cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, và 144.000.0000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng) tại giấy giao nhận tiền bồi thường thiệt hại giữa đại diện gia đình bị cáo và gia đình bị hại ghi ngày 11/9/2023, do bố bị cáo là Ông Mông Đức T nộp thay bị cáo, HĐXX nhận thấy đây là tình tiết giảm nhẹ mới cần ghi nhận để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt như đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị là có căn cứ, thông qua đó thể hiện tính khoan hồng giảm nhẹ của pháp luật đối với người phạm tội. Do đó kháng cáo của bị cáo có căn cứ được chấp nhận
Luật sư bào chữa cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo còn trẻ, thật thà khai nhận hành vi phạm tội của mình, đến nay đã nộp được hết khoản tiền án sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp, nhận thấy đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Mông Việt H được chấp nhận do đó bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, và không trái các qui định của pháp luật, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Mông Việt H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 98A/2023/HS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Mông Việt H; cụ thể:
- Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Mông Việt H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s và điểm r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Mông Việt H phạm tội (Giết Người).
Xử phạt Mông Việt H 12 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/02/2023.
- Xác nhận gia đình bị cáo do ông Mông Đức T là bố bị cáo nộp được 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm ngàn đồng), tiền án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0000309 ngày 11/4/2024, tại cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, và 144.000.0000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng) tại giấy giao nhận tiền bồi thường thiệt hại giữa đại diện gia đình bị cáo và gia đình bị hại ghi ngày 11/9/2023.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận :
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Nam |
Bản án số 320/2024/HS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (giết người)
- Số bản án: 320/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Mông Việt H
