Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

=== *&*===

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

*&*----------

Bản án số: 320/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/8/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên Tòa: Ông Tô Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Lan, ông Kiều Xuân Mai.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh- Thẩm tra viên TAND huyện Mê Linh- thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXX- ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Phùng Quang Lợi, sinh năm 1953
  • HKTT: Thôn 2, xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, TP Hà Nội
  • Chỗ ở hiện nay: Tổ 8, phường Tân Quang, TP Tuyên Quang, Tỉnh Tuyên Quang
  • * Bị đơn: Bà Lưu Thị Toán, sinh năm 1951
  • HKTT: Thôn 2, xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, TP Hà Nội
  • Chỗ ở hiện nay: Thôn 2, xã Thạch Đà, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.
  • (Tại phiên tòa có mặt bà T, ông L có đơn xin xử vắng mặt)
  • *Người làm chứng: Anh Phùng Quang T1 sinh năm 1972 – con đẻ ông L, bà T.
  • Chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện M, TP Hà Nội.
  • (có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2024, bản tự khai nguyên đơn ông Phùng Quang l trình bày:

Tôi và bà Lưu Thị T2 lấy nhau năm 1971, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn. Ông bà chung sống được 07 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do khác nhau về lối sống và bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái, cách sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Đến năm 1978 do mâu thuẫn trong cuộc sống giữa cả hai ngày càng trầm trọng, ông bà không ở chung với nhau nữa, ông L chuyển tới thành phố T làm ăn sinh sống, tại đây ông L sinh sống như vợ chồng với bà Mai Thu H nhưng cũng không đăng ký kết hôn, việc này bà T2 có biết và không có ý kiến gì. Trong khoảng thời gian này ông L sống tại Tuyên Quang với bà H và đi lại về quê xã T, có hỏi thăm bà T2, ông L duy trì mối quan hệ hôn nhân thực tế với cả hai bà T2 và H. Nay ông L xác định tình cảm với bà T2 không còn đề nghị Tòa án cho được chấm dứt hôn nhân thực tế với bà T2.

Trong thời kỳ hôn nhân với bà T2, ông L và bà T2 có 04 con chung; Tên là Phùng Quang T1 sinh năm 1972; Phùng Thị Ngọc sinh năm 1974; Phùng Thị H1 sinh năm 1978; Phùng Quang Đ sinh năm 1984. Hiện nay cả 04 người con đã trưởng thành và có gia đình riêng, cuộc sống riêng.

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 17/06/2024 ông Phùng Quang L1 có yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 281a, tờ bản đồ số 5, diện tích 81m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 363102 mang tên bà Lưu Thị T2. Nhưng tại buổi hòa giải ngày 30/7/2024 ông L1 đã rút yêu cầu chia khối tài sản này, để giải quyết sau.

Ngoài tài sản trên ông và bà T2 không có tài sản chung, công sức, công nợ với bất kỳ ai khác, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay ông đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh công nhận cho ông được ly hôn với bà Lưu Thị T2 theo quy định pháp luật.

Do tuổi cao không đi lại được nên ông L1 có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn bà Lưu Thị T2 trình bày:

Tôi và ông Phùng Quang L1 lấy nhau năm 1971, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, do thời gian dài có thể giấy đăng ký kết hôn bị thất lạc không còn. Ông bà chung sống được 07 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do khác nhau về lối sống và bất đồng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái, cách sinh hoạt trong cuộc sống hằng ngày. Đến năm 1978 do mâu thuẫn trong cuộc sống giữa cả hai ngày càng trầm trọng, ông L1 chuyển tới thành phố T làm ăn sinh sống, tại đây ông L1 sinh sống như vợ chồng với bà Mai Thu H nhưng cũng không đăng ký kết hôn, việc này bà T2 có biết và không có ý kiến gì.Trong khoảng thời gian này ông L1 sống tại Tuyên Quang với bà H và đi lại về quê xã T, ông L1 có đi lại với tôi cho đến năm 1984, khi tôi sinh thêm con thứ 4 ông L1 đi ở Tuyên Quang từ đó, chúng tôi không liên lạc với nhau nữa. Nay ông L1 có đơn xin ly hôn tôi không đồng ý vì ông bỏ đi từ năm 1984 coi như ông đã bỏ tôi rồi. Nay tôi không muốn ly hôn vì muốn các con có bố.

Tôi và ông L1 có 04 con chung; Tên là Phùng Quang T1 sinh năm 1972; Phùng Thị Ngọc sinh năm 1974; Phùng Thị H1 sinh năm 1978; Phùng Quang Đ sinh năm 1984. Hiện nay cả 04 người con đã trưởng thành và có gia đình riêng, cuộc sống riêng.

Về tài sản: Thửa đất số 281a, tờ bản đồ số 5, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô K363102 cấp ngày 19/5/1998 mang tên bà Lưu Thị T2 là của bố mẹ ông L1 để lại, nay ông L1 có đơn đề nghị chia, tôi không đồng ý. Vì trước khi mảnh đất này này có diện tích 182m2, ông L1 đã bán một nửa diện tích vào năm 1996, còn lại một nửa là 81m2 tôi làm bìa đỏ mang tên tôi vào năm 1998. Đất này là của cha ông nhà ông L1 để lại cho con cháu nên tôi không đồng ý chia.

Ngoài tài sản trên bà và ông L1 không có tài sản chung, công sức, công nợ với bất kỳ ai khác, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tại phiên toà. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xác định quan hệ hôn nhân giữa ông L1 và bà T2 là hôn nhân thực tế. Chấp nhận đơn xin ly hôn của ông L1 với bà T2

Áp dụng Điều 51,56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 35 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội; Điều 147, 271, 273, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị chấp nhận đơn ly hôn giữa ông Phùng Quang L1 và bà Lưu Thị T2 . Về con chung do đã trưởng thành nên xem xét giải quyết.

Về tài sản, công sức, công nợ: Đề nghị đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông L1 về việc ông rút yêu cầu chia tài sản. Do ông L1 và bà T2 không có yêu cầu chia tài sản nên không xem xét.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đợc thẩm tra tại phiên toà, H2 đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: ông Phùng Quang L1 khởi kiện xin ly hôn với bà Lưu Thị T2, đây là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T2 là bị đơn hiện có hộ khẩu và thường trú tại thôn B - xã T - huyện M- Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Mê Linh theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông L1 có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Ông L1 và bà T2 kết hôn với nhau từ năm 1971 trên cơ sở tự nguyện nhưng không đến UBND xã T để đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, tuy nhiên có cưới hỏi theo phong tục địa phương. Trên cơ sở lời khai các đương sự, tài liệu có trong hồ sơ, năm sinh của các con đã thể hiện ông L1 và bà T2 là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1971 do vậy xác định đây là hôn nhân thực tế theo quy định tại Nghị quyết số 35 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội.

[3] Về mâu thuẫn vợ chồng:

Theo trình bày của ông L1 vợ chồng sống không hợp nhau, hết tình cảm yêu thương, sống ly thân nhau từ năm 1978 đến nay.

Phía bà T2 cũng xác định vợ chồng hạnh phúc được khoảng 07 năm thì bắt đầu mâu thuẫn, ông L1 chuyển đi sinh sống ở Thành phố T kể từ đó.

Hội đồng xét xử nhận thấy ông L1 và bà T2 sống ly thân nhau từ lâu chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của ông bà không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy ông L1 xin ly hôn bà T2 là phù hợp với quy định luật hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận.

[4] Về con chung: Có 04 con chung

Phùng Quang T1 sinh năm 1972; Phùng Thị Ngọc sinh năm 1974; Phùng Thị H1 sinh năm 1978; Phùng Quang Đ sinh năm 1984. Các con đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét

[5] Về tài sản, Về công sức, công nợ: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu nên HĐXX không xem xét

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: ông L1 là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 244, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 51, 56, 131 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 35 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện ly hôn của ông Phùng Quang L1.
  2. Ông Phùng Quang L1 được ly hôn bà Lưu Thị T2.
  3. Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung vợ, chồng do ông Phùng Quang L1 có đơn rút yêu cầu chia tài sản.
  4. Về con chung: Các con đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết
  5. Về tài sản, công sức, công nợ: Không xét.
  6. Về án phí ly hôn: ông Phùng Quang L1 là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.

7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Tô Thanh P

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - VKSND Mê Linh
  • - Chi cục THA Mê Linh
  • - Các đương sự
  • - UBND cấp xã nơi đương sự cư trú
  • - Lưu HS, VP.

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

----------

Vào hồi 9h30 ngày 31/7 /2023

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Diệu Kim

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn K; bà Dương Thị Kim L2

Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 36/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 2 năm 2023 về việc xin ly hôn giữa:

  • * Nguyên đơn: ông Đỗ Văn T3 - SN 1958
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T3: Bà Phạm Thị H3- Luật sư C2- đoàn luật sư thành phố H
  • * Bị đơn: bà Lê Thị C1 - SN 1957
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Lê Thị H4, sinh năm 1960
    2. Anh Đỗ Mạnh H5, sinh năm 1982
    3. Anh Đỗ Mạnh Đ1, sinh năm 1984
    4. Anh Đỗ Mạnh T4, sinh năm 1986
  • Các đương sự đều cùng địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, TP . Hà Nội.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Căn cứ vào Điều 51,56, 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 35 ngày 06/9/2000 của HĐTPTANDTC. Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.

Xử.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Văn T3

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Đỗ Văn T3 với bà Lê Thị C1.
  2. Con chung: Các con đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết
  3. Về tài sản:
  4. Giao cho ông Đỗ Văn T3 được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 190 tờ bản đồ 08, diện tích 328m² địa chỉ tại Thôn T, xã T, huyện M theo GCNQSD Đất số X 162892, số vào sổ 03168 QSDĐ/1133/QĐ-UB do UBND huyện M cấp ngày 18/12/2002 mang tên hộ ông Đỗ Văn T3. Diện tích theo hiện trạng sử dụng là 302,7m2 trong đó có 200m2 đất ở và 102,7m2 đất vườn được giới hạn bởi các điểm A,B,C,D,E,F,G,H,I,J,K,L,M,A (có sơ đồ kèm theo) và toàn bộ tài sản xây dựng trên đất.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Đỗ Văn T3 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận QSDĐ cho phù hợp.

  5. Về án phí ly hôn: ông Đỗ Văn T3 là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Kết quả biểu quyết 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 10h00 cùng ngày

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 320/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH- THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 320/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lợi xin ly hôn thực tế với bà Toán
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger