Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 320/2025/DS-PT

Ngày: 16 - 6 - 2025

V/v tranh chấp về xác định quyền

sở hữu, quyền sử dụng đất

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.

Bà Kiều Kim Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lưu Hồng Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Đỗ Trung Đến-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 09, 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp về xác định phần quyền sở hữu, quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 271/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146/2025/QĐ-PT ngày 26/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1979; địa chỉ: số A, đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

    • Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Số B, T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 23/4/2025); vắng mặt.
    • Chị Đặng Thị Thanh T1, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú: Số H, đường N, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 23/4/2025); có mặt.
    • Anh Dương Minh T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Số G đường C, tổ F, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 09/5/2025); có mặt.
  2. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1942; địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

      Người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thế P:

      • Chị Lê Thị Mỹ T3, sinh năm 1982; địa chỉ: A, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 29/5/2024); vắng mặt.
      • Anh Trần Văn N, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B, đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 15/01/2025); có mặt.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thế P:

      Ông Nguyễn Văn L1, Luật sư Công ty L3 và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; có mặt.
    2. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1945; địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

      Người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị N1:

      Anh Trần Văn N, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B, đường L, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (văn bản ủy quyền ngày 15/01/2025); có mặt.

      Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị N1:

      Ông Lê Minh Đ, Luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố C; có mặt.
    3. Anh Nguyễn Nhật T4, sinh năm 1975; có mặt.
    4. Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1976;
    5. Anh Nguyễn Nhật M, sinh năm 2000; vắng mặt.
    6. Anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 2013; vắng mặt.

    Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi tạm trú: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Ngọc H:

    Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ A, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của chị H (văn bản ủy quyền ngày 30/8/2024); có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Nguyễn Thị Mỹ N2, sinh năm 1969; có mặt.
    2. Chị Nguyễn Thị Mỹ T5, sinh năm 1970; có mặt.
    3. Chị Nguyễn Thị Tuyết N3, sinh năm 1982; có mặt.
    4. Chị Nguyễn Thị Thùy T6, sinh năm 1984; có mặt.

    Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

    1. Chị Nguyễn Thị Mộng Đ1, sinh năm 1978; địa chỉ: Khu dân cư Ấ (Đối diện UBND xã M), xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
  4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thế P, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết L, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Căn cứ Bản án phúc thẩm số 367/2023/DS-PT ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản và bảo lãnh. Căn cứ Quyết định thi hành án số 81/QĐ-CCTHADS ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh; Căn cứ Thông báo số 109/CCTHADS ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Qua xác minh điều kiện thi hành án của anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H thì hộ ông Nguyễn Thế P được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hai thửa đất sau:

Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.574m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Thế P gồm ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Nhật T4, chị Nguyễn Ngọc H và anh Nguyễn Nhật M.

Thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 06, diện tích 5.181m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Thế P gồm ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Nhật T4, chị Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Nhật M và anh Nguyễn Tiến M1. Hai thửa đất nêu trên là tài sản chung của hộ ông Nguyễn Thế P, trong đó có phần tài sản của anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H.

Đến nay hai thửa đất trên chưa được phân chia cho các thành viên trong hộ của ông Nguyễn Thế P. Do anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H là người phải thi hành án đối với bản án phúc thẩm số 367/2023/DS-PT ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Ngoài phần tài sản nêu trên thì anh T4 và chị H không còn tài sản riêng nào khác để thi hành án. Nay chị L yêu cầu xác định phần tài sản của anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H trong khối tài sản chung của hộ ông Nguyễn Thế P để thi hành án theo bản án phúc thẩm số: 367/2023/DS-PT ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Cụ thể xác định anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H mỗi người được quyền sử dụng 1/4 diện tích đất tại các thửa: Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.574m² (đất ở nông thôn), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003 và thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.181m² (đất trồng cây lâu năm), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017; cả hai thửa đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Tại phiên tòa, chị L không yêu cầu đưa anh Nguyễn Nhật M, anh Nguyễn Tiến M1 tham gia tố tụng vì anh Nhật M, anh Tiến M1 không phải là thành viên hộ được cấp quyền sử dụng đất thửa số 5, tờ bản đồ số 10 và thửa 1490, tờ bản đồ số 6, tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn Nguyễn Thế P, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thế P và bị đơn Nguyễn Thị N1 trình bày:

Diện tích đất của thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 6, tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của cha mẹ ông P là cụ Nguyễn Ngọc T7 và cụ Võ Thị T8. Trong quá trình sử dụng đất ông T8 và bà T8 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1991, ông P đi kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 1569, 1551, 1552, 1462, 1463, cùng tờ bản đồ số 7, đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Năm 2003, ông P điều chỉnh diện tích đất 3.250m² tại thửa số 1569, tờ bản đồ số 7 (đất thổ) thành thửa số 5, tờ bản đồ 10, cấp cho hộ ông Phương diện T9 đất 2.574m² (loại đất thổ, vườn). Hộ ông P năm 2003 gồm: Ông P, bà Nguyễn Thị N1 (vợ ông P), anh Nguyễn Nhật T4 (con ruột ông P), chị Nguyễn Ngọc H (con dâu ông P), anh Nguyễn Nhật M, sinh năm 2000 và anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 2013 (cháu nội ông P), ngoài ra không còn ai. Hộ của ông P hiện nay gồm: Ông P, bà N1, anh T4, chị H, anh Nhật M, anh Tiến M1 (là vợ, con ruột, con dâu và cháu nội ông P). Năm 2003, hộ ông Nguyễn Thế P có đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất tại các thửa 1551, 1552, 1462, 1463, cùng tờ bản đồ số 7 (loại đất lúa) thành thửa số 991, tờ bản đồ số 6 (loại đất vườn). Năm 2017, ông P tách thửa số 991, tờ bản đồ số 6 thành 02 thửa 1489, 1490, tờ bản đồ số 6. Diện tích đất thuộc thửa 1489, tờ bản đồ số 6, ông P đã chuyển nhượng cho người khác.

Chị L yêu cầu xác định anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H mỗi người được quyền sử dụng 1/4 diện tích đất tại các thửa: Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.574m² (đất ở nông thôn), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003; Thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.181m² (đất trồng cây lâu năm), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1 ngày 10/4/2017; đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, ông P không đồng ý vì đây là tài sản riêng của ông P được cha mẹ cho (cha ông P chết năm 1976, mẹ ông P chết năm 1992). Sau khi cụ Võ Thị T8 chết ông P đứng tên quyền sử dụng đất cho đến nay. Chị H là con dâu và nhập hộ khẩu từ năm 1999, sống chung hộ được 02 năm thì chị H chuyển về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Ông P đề nghị không đưa con của chị H, anh T4 vào tham gia tố tụng vì cháu Nhật M và Tiến M1 không có công sức đóng góp vào các tài sản mà chị L đang tranh chấp.

Chị Nguyễn Ngọc H, người đại diện theo ủy quyền của chị H và anh Nguyễn Nhật T4 trình bày:

Diện tích đất tại các thửa số 5, tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 6, tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp có nguồn gốc của cha mẹ ông P để lại cho ông P. Anh T4 là thành viên hộ của ông P nhưng từ trước đến nay anh T4 không canh tác và không có công sức đóng góp gì trong quá trình hình thành nên các thửa đất nêu trên. Chị H là con dâu của ông P và bà N1, là thành viên hộ của ông P và bà N1 nhưng diện tích đất chị L yêu cầu là của ông P, bà N1, chị H không có công sức đóng góp để hình thành thửa đất nêu trên, diện tích đất nêu trên chị H cũng không canh tác, sử dụng. Chị H sống chung hộ với ông P được khoảng 03 năm thì chuyển về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Anh T4, chị H không đồng ý yêu cầu của chị L, đề nghị Tòa án xác định diện tích đất nêu trên là của ông P, bà N1, các con của chị H, anh T4 là Nguyễn Nhật M, Nguyễn Tiến M1 không có công sức đóng góp vào các tài sản mà chị L yêu cầu, do đó chị H, anh T4 đề nghị không đưa con của chị H, anh T4 vào tham gia tố tụng.

Chị Nguyễn Thị Mỹ N2, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, chị Nguyễn Thị Thùy T6 trình bày:

Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 6, tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp là của ông bà nội của chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 (cụ Nguyễn Ngọc T7 và cụ Võ Thị T8) để lại cho ông P. Trước đây ông bà nội đã được cấp quyền sử dụng đất chưa thì chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 không biết. Ông P đã được cấp quyền sử dụng đất khoảng năm 1991, giấy chứng nhận cấp cho cá nhân của ông P, cấp theo hình thức nào thì chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 không biết. Trong quá trình sử dụng đất, ông P có tiến hành cấp đổi, tách thửa các thửa đất nêu trên, cụ thể ông P cấp đổi và tách thửa thời gian nào thì chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 không biết và ông P có tiến hành chuyển nhượng đất hay không thì chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 không biết.

Chị L yêu cầu xác định anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H mỗi người được quyền sử dụng 1/4 diện tích đất tại các thửa: Thửa đất số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.574m², mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003; Thửa đất số 1490, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.181m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017; đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 không đồng ý vì đây là tài sản riêng của ông P, bà N1. Chị H, anh T4 không có công sức đóng góp, cải tạo các diện tích đất nêu trên và không sống chung hộ với ông P, bà N1 hơn 20 năm. Nếu có căn cứ xác định các thửa đất nêu trên là tài sản của hộ thì đề nghị xác định tài sản hộ của ông P gồm có các thành viên như hộ khẩu của ông P năm 1991. Chị N2, chị T5, bà Đ1, chị N3, chị T6 hiện nay không còn sống chung hộ với ông Nguyễn Thế P. Hộ ông P theo thực tế gồm Ông P, bà N1, ngoài ra không còn ai.

Chị Đ1 trình bày bổ sung: Năm 1991, ông P đi kê khai đăng ký cấp đất lần đầu cho cá nhân ông P. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Đ1 xác định diện tích đất chị L yêu cầu là tài sản của ông P, bà N1; chị Đ1 và các con của ông P, bà N1 không có quyền sở hữu, quyền sử dụng các diện tích đất chị L đang yêu cầu.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 271/2024/DS-ST ngày 22/11/2024, được sửa chữa, bổ sung ngày 19/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 73, Điều 74 Luật đất đai năm 1993; Điều 3, Điều 100, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 208, Điều 209, Điều 212, Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  • Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết L.
  • Anh Nguyễn Nhật T4 có 1/3 quyền sở hữu, quyền sử dụng diện tích đất 2.463,6m² (đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 10 và 1/3 quyền sở hữu, quyền sử dụng diện tích đất 5.703,6m² (đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 1490, tờ bản đồ số 6, đất cùng tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  • Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết L về việc yêu cầu xác định chị Nguyễn Ngọc H có ¼ quyền sở hữu, quyền sử dụng diện tích đất 2.463,6m² (đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa số 05, tờ bản đồ số 10 và 5.703,6m² (đất trồng cây lâu năm), thửa 1490, tờ bản đồ số 6, đất cùng tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 30/5/2024 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh Đ và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/5/2024 của Tòa án)

Về án phí và chi phí tố tụng khác:

  • Chị Nguyễn Thị Tuyết L phải phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0008277 ngày 06/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tiền án phí bà L đã nộp và chi xong.
  • Ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Nhật T4, phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • Chị Nguyễn Thị Tuyết L, ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Nhật T4 phải liên đới chịu 11.845.657 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do chị L đã nộp và chi xong số tiền 11.845.657 đồng nên ông P, bà N1, anh T4 mỗi người phải nộp số tiền 2.369.131 đồng để trả lại cho chị L.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/11/2024 bị đơn Nguyễn Thế P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xác định thửa đất số 1490 và thửa đất số 5 là tài sản của ông Nguyễn Thế P. Trường hợp Tòa án xác định là tài sản chung thì phải chia ½ cho ông P và bà N1, còn lại ½ phải chia đều cho tất cả 08 thành viên trong hộ tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết L trình bày nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thế P, nguyên đơn đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thế P trình bày ông P không rút kháng cáo. Ông P có bổ sung kháng cáo yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ, vì thửa đất số 1490 và thửa số 5 là của cha mẹ ông P, cấp lần đầu cho ông P, sau đó cấp đổi vẫn ghi ông P nhưng không biết lý do vì sao cấp cho hộ ông P, đây là một sai lầm; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trả lời không có hồ sơ lưu nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập hồ sơ cấp đất lần đầu tại Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ là thiếu sót; ngày 30/8/2024 anh T4 có trình bày con anh T4 đã xuất cảnh từ năm 2020 nhưng Tòa không thu thập chứng cứ và theo quy định vụ án có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh nên đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thế P trình bày trường hợp không hủy án sơ thẩm, thì xác định tài sản đang tranh chấp là của cá nhân ông P, năm 1991 cấp cho ông P, khi cấp đổi chỉ có ông P ký tên cấp đổi.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị N1 trình bày bà N1 đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế P.

Bị đơn Nguyễn Nhật T4, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Ngọc H đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế P.

Chị Nguyễn Thị Mỹ N2, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, chị Nguyễn Thị Thùy T6 đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế P.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thế P trình bày tranh luận: Thửa số 1490 và thửa số 5 cấp cho cá nhân ông P, anh T4 không có công sức đóng góp, ông P không đồng ý với xác nhận của ấp, xã về việc anh T4 có sử dụng đất nêu trên. Do đất là tài sản của cá nhân ông P nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định cấp cho hộ gia đình ông P, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm. Trường hợp không hủy án sơ thẩm thì chia quyền sử dụng đất thửa số 1490 và thửa số 5 làm 08 phần bằng nhau cho các thành viên hộ gia đình ông P vào thời điểm năm 1991.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Nguyễn Thị N1 đề nghị hủy án sơ thẩm, lý do anh Nguyễn Nhật M đang học tập ở nước ngoài được thể hiện ở bút lục số 122, nguyên đơn yêu cầu xác định anh T4 có 1/4 quyền sở hữu, quyền sử dụng đất tại thửa số 05 và thửa số 1490, Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh T4 được 1/3 tài sản nhưng không thể hiện vị trí đất, thông báo của Chi cục Thi hành án dân sự có thông báo cho hai con của anh T4 là Nhật M và Tiến M1, việc chị L không yêu cầu đối với hai con anh T4 là không phù hợp.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1 trình bày: Đất cấp năm 1991 là cấp cho cá nhân ông P, năm 2003 cá nhân ông P xin chuyển mục đích sử dụng đất nhưng cơ quan có thẩm quyền ghi nhận hộ ông P và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông P là không phù hợp. Quá trình sử dụng đất, ông P có chuyển nhượng đất, tất cả thành viên hộ gia đình đều ký tên ủy quyền cho ông P chuyển nhượng đất. Năm 2017 các con gái ông P đã chuyển hộ khẩu nên việc chuyển nhượng đất chỉ có vợ chồng ông P, bà N1, lỗi là của cơ quan có thẩm quyền. Ông P đã mù lòa nên không khiếu nại, việc cơ quan cấp đất trả lời hồ sơ cấp đất năm 1991 không còn nhưng không thu thập hồ sơ này tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ dẫn đến xác định tư cách hộ là không đúng, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, anh T4 đã cung cấp thông tin con anh T4 là Nguyễn Nhật M đang học tập ở nước ngoài nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện theo quy định pháp luật chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết, Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được. Về thủ tục tống đạt ngay từ đầu xác định không ai ở nhà là không phù hợp, bởi ông P bị mù nên thường ở nhà, bà N1 đã già không đi đâu, cháu Nhật M ở nước ngoài từ năm 2020. Do có vi phạm về thẩm quyền giải quyết, thu thập chứng cứ không đầy đủ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy án sơ thẩm. Trường hợp Tòa án xác định quyền sử dụng đất thửa số 1490 và thửa số 5 là tài sản chung của hộ gia đình ông P, thì ông P đồng ý chia đều cho tất cả 08 thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 gồm ông P, vợ ông P là bà N1 và các con của ông P, bà N1 gồm chị Nguyễn Thị Mỹ N2, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, chị Nguyễn Thị Thùy T6, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1 và anh Nguyễn Nhật T4. Ông P đồng ý xác định anh T4 được quyền sử dụng 1/8 diện tích đất của thửa số 1490 và thửa số 5 cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Anh Nguyễn Nhật T4 trình bày: Thống nhất với trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông P, bà N1. Năm 2003 khi vợ chồng anh T4 về gia đình vợ anh T4 ở xã M, huyện C sinh sống thì cha vợ anh T4 có xin tạm trú cho vợ chồng anh T4. Sau khi cha vợ anh T4 chết thì anh T4 không xin tạm trú, cha vợ anh T4 chết hơn 10 năm. Anh T4 thực hiện thủ tục đăng ký nơi tạm trú mới: Tổ 19, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp từ ngày 31/8/2024.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Ngọc H trình bày: Đất tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991, nếu sau này có thêm diện tích thì các con ông P mới có công sức đóng góp, nếu ít đi thì các con ông P không có công sức đóng góp.

Chị Nguyễn Thị Mỹ N2, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1 đề nghị chấp nhận kháng cáo của ông P.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tranh luận: Năm 1991 ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu, năm 1998 ông P cho rằng đất cấp cho cá nhân ông P nhưng khi ký tên chuyển nhượng đất cho ông K, ông B thì các thành viên trong hộ là bà N1, anh T4, chị H đều ký tên. Đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 do ông P viết, ký tên, không phải của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau đó Nhà nước đã cấp đất tranh chấp cho hộ gia đình ông P thì đến nay ông P cũng không khiếu nại. Về nguồn gốc đất không có ghi nhận của cha mẹ ông P để lại. Việc anh T4 trình bày anh T4 không sinh sống cùng ông P, không quản lý tài sản của hộ gia đình ông P là không phù hợp vì theo xác nhận của ấp, xã nơi anh T4 cư trú thì anh T4 là người quản lý, sử dụng thửa đất số 5 và 1490. Về yếu tố nước ngoài, đương sự không nêu ở cấp sơ thẩm, đề nghị không đưa các con của anh T4 vào tham gia tố tụng vì không có công sức đóng góp vào tài sản nêu trên. Chị L không đồng ý hủy án sơ thẩm.

Người đại diện theo ủy quyền của ông P tranh luận: Nguyên đơn thừa nhận đất cấp năm 1991, nguyên đơn cho rằng đất cấp cho hộ là không đúng vì Luật đất đai không quy định mà đến năm 2024 mới quy định rõ ràng về hộ gia đình được cấp đất. Căn cứ vào hộ khẩu thì hộ gia đình được cấp đất không chỉ có ông P, bà N1, anh T4. Việc chuyển hộ khẩu của các con ông P không tước đi quyền sử dụng đất của thành viên hộ gia đình. Đất cấp năm 1991 là cấp cho cá nhân ông P nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định hộ gia đình ông P chỉ có 03 người là không đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thế P nộp trong thời hạn và đúng thủ tục nên hợp lệ.

Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thế P nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.

[2] Chị Lê Thị Mỹ T3, anh Nguyễn Nhật M, anh Nguyễn Tiến M1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thế P, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[3.1] Chị Nguyễn Thị Tuyết L yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H mỗi người được quyền sử dụng 1/4 diện tích đất tại thửa số 5, tờ bản đồ số 10, diện tích 2.574m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003 và thửa số 1490, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.181m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017; vị trí đất tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Ông Nguyễn Thế P và bà Nguyễn Thị N1 không đồng ý theo yêu cầu của chị L vì đây là tài sản riêng của ông P được cha mẹ ông P là cụ Nguyễn Ngọc T7 (đã chết năm 1976) và cụ Võ Thị T8 (đã chết năm 1992) tặng cho. Anh Nguyễn Nhật T4 và chị Nguyễn Ngọc H không đồng ý theo yêu cầu của chị L, đề nghị Tòa án xác định diện tích đất nêu trên là của ông P, bà N1.

[3.2] Các đương sự thống nhất vào ngày 10/11/1991, ông Nguyễn Thế P đã được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa số 1569, 1551, 1552, 1462, 1463 (mục đích sử dụng: T, 2L và CDK), tờ bản đồ số 7, diện tích 10.812m², tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Năm 1998, ông P xin tách thửa số 1760 từ thửa số 1551, diện tích 848m² đất thổ chuyển cho ông Phạm Văn B và tách thửa số 1761 từ thửa 1550, diện tích 175m² đất CDK chuyển cho ông Nguyễn Hồng K, diện tích còn lại là 9.694m². Năm 2003, 2008 ông P làm thủ tục cấp đổi, điều chỉnh diện tích đất 3.250m² tại thửa số 1569 (đất thổ) thành thửa số 5, tờ bản đồ 10, diện tích 2.574m² (đất thổ) và hộ ông P được cấp quyền sử dụng đất. Năm 2003, ông P có đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất tại các thửa số 1551, 1552, 1462, 1463 (đất lúa) thành thửa số 991, tờ bản đồ số 6 (đất vườn), diện tích 5.379m² và hộ ông P làm thủ tục cấp đổi thửa số 991, mục đích sử dụng: Đất vườn, ngày 10/4/2004 hộ ông Nguyễn Thế P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 991, tờ bản đồ số 6, diện tích 5.379m², mục đích sử dụng: Đất vườn. Năm 2017, ông P xin tách thửa số 991 thành 02 thửa 1489, 1490, tờ bản đồ số 6, diện tích đất tại thửa số 1489 ông P đã chuyển nhượng đất cho người khác. Hiện nay hộ ông P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 5, tờ bản đồ số 10, đo đạc thực tế là 2.463,6m² và thửa số 1490, tờ bản đồ số 6, đo đạc thực tế là 5.703,6m².

[3.3] Về nguồn gốc đất thửa số 5 và thửa số 1490, ông Nguyễn Thế P và bà Nguyễn Thị N1, chị Nguyễn Thị Mỹ N2, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, anh Nguyễn Nhật T4, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, chị Nguyễn Thị Thùy T6 trình bày là của cha mẹ ông P là cụ Nguyễn Ngọc T7 (đã chết năm 1976) và cụ Võ Thị T8 (đã chết năm 1992), ông P cho rằng ông P được cha mẹ tặng cho đất. Nhưng các đương sự chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh, cơ quan có thẩm quyền đã cung cấp thông tin không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa số 1569, 1551, 1552, 1462, 1463 vào ngày 10/11/1991 cho ông Nguyễn Thế P (bút lục số 115) nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguồn gốc đất của ông P, bà Nghĩa L2 phù hợp.

[3.4] Qua xem xét giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 10/11/1991 tại các thửa số 1569, 1551, 1552, 1462, 1463 (mục đích sử dụng: T, Lúa và CDK) không ghi nhận cấp cho hộ hay cá nhân ông P, cơ quan có thẩm quyền thông tin không xác định được là cấp cho hộ hay cá nhân (bút lục số 120). Quá trình sử dụng đất, ông P tiến hành thủ tục cấp đổi nhiều lần, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp 2003, 2017 đối với các thửa đất đang tranh chấp đều ghi nhận cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P nhưng ông P không có ý kiến, không khiếu nại nên thửa đất số 5 và thửa đất số 1490 theo quy định là tài sản chung của hộ ông P do ông P tự nguyện nhập vào tài sản chung hộ gia đình. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất tại các thửa số 1569, 1551, 1552, 1462, 1463 nêu trên cấp cho hộ ông P là phù hợp.

[3.5] Về hộ gia đình sử dụng đất: Tại xác nhận số: 1775/XN-CAH-QLHC ngày 20/8/2024 của Công an huyện C, đã xác nhận hộ ông Nguyễn Thế P vào năm 1991 gồm bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Thế P, chị Nguyễn Thị Mỹ N2, sinh năm 1969, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, sinh năm 1970, anh Nguyễn Nhật T4, sinh năm 1975, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1, sinh năm 1978, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, sinh năm 1982 và chị Nguyễn Thị Thùy T6, sinh năm 1984. Qua xem xét vào năm 1991 chị Đ1, chị N3 và chị T6 chưa đủ 15 tuổi, hiện nay chị N2, chị T5, chị Đ1, chị N3, chị T6 đã chuyển hộ khẩu, không còn sống chung với ông P, bà N1 và xác định diện tích đất tranh chấp là tài sản của ông P, bà N1. Tại xác nhận số: 000399/XN ngày 02/11/2023 của công an xã M xác định hộ của ông P hiện nay gồm: Ông P, bà N1, anh T4, chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1976, anh Nguyễn Nhật M, sinh năm 2000 và anh Nguyễn Tiến M1, sinh năm 2013. Chị H là dâu của ông P, không có công sức đóng góp, tạo lập trong quá trình hình thành các thửa đất tranh chấp, nội dung này được chị H thống nhất. Đối với anh Nhật M và Tiến M1 là cháu của ông P, ông P, bà N1, anh T4, chị H đều trình bày anh Nhật M và Tiến M1 không có công sức đóng góp vào các tài sản mà chị L đang tranh chấp và đề nghị không đưa anh Nhật M và Tiến M1 vào tham gia tố tụng. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định hộ ông P sử dụng đất tại các thửa số 5 và thửa số 1490 gồm ông P, bà N1, anh T4 là phù hợp.

[3.6] Mặc dù ông P, bà N1, người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N1, anh T4 đều trình bày từ năm 2003 đến nay anh T4 không sống chung hộ gia đình ông P, không trực tiếp sử dụng đất thửa số 5 và thửa số 1490 nêu trên, người trực tiếp sử dụng đất là ông P và bà N1 mà cho rằng khi còn nhỏ thì anh T4 đi học, lớn lên đi làm việc, sau kết hôn đến năm 2003 anh T4 đến sống chung với gia đình chị H ở xã M, huyện C, thời gian đầu cha vợ anh T4 có xin tạm trú cho anh T4, cha vợ chết hơn 10 năm thì anh T4 không đến cơ quan có thẩm quyền xin tạm trú tại gia đình vợ. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T4 có cung cấp bản photo thông báo số 749 ngày 31/08/2024 của Công an xã M về kết quả giải quyết, hủy bỏ đăng ký cư trú của chị H, anh T4 và 02 con anh T4 và đăng ký nơi tạm trú mới tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp từ ngày 31/8/2024. Thực tế các đương sự chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Lời trình bày này không được người đại diện theo ủy quyền của chị L thừa nhận, mà cho rằng anh T4 từ nhỏ đến lớn đều sống chung hộ ông P, sau khi kết hôn anh T4 vẫn thường xuyên sinh sống cùng ông P và chăm sóc ông P, bà N1, anh T4 sử dụng đất vào việc trồng mai, cây ăn trái và cung cấp xác nhận của Trưởng ấp, được Ủy ban nhân dân xã xác nhận chữ ký. Xét thấy từ năm 2003 đến nay ông P, bà N1 đã là người cao tuổi, người già, người đại diện theo ủy quyền của ông P trình bày ông P đã mù, không ra khỏi nhà nên ông P, bà N1, người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N1, anh T4 đã trình bày từ năm 2003 đến nay ông P, bà N1 trực tiếp sử dụng đất là không phù hợp. Mặt khác các con gái của ông P, bà N1 đã kết hôn và sinh sống ở nơi khác nên có cơ sở xác định anh T4 là người sống chung hộ ông P, bà N1, phụng dưỡng ông P, bà N1 và sử dụng đất tranh chấp như nguyên đơn trình bày.

[3.7] Từ những căn cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định anh T4 được quyền sử dụng 1/3 diện tích đất 2.463,6m² (đất ở nông thôn), tại thửa số 5, tờ bản đồ số 10, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003 và 1/3 diện tích đất 5.703,6m² (đất trồng cây lâu năm) tại thửa số 1490, tờ bản đồ số 6, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017; tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, là phù hợp quy định tại Điều 3, Điều 100, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 208, 209, 212, 219 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3.8] Ông P kháng cáo yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Tuyết L nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông P trình bày Tòa án xác định quyền sử dụng đất thửa số 1490 và thửa số 5 là tài sản chung của hộ gia đình ông P, thì ông P đồng ý chia đều cho tất cả 08 thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 gồm ông P, vợ ông P là bà N1 và các con của ông P, bà N1 gồm chị Nguyễn Thị Mỹ N2, chị Nguyễn Thị Mỹ T5, chị Nguyễn Thị Tuyết N3, chị Nguyễn Thị Thùy T6, chị Nguyễn Thị Mộng Đ1 và anh Nguyễn Nhật T4. Ông P đồng ý xác định anh T4 được quyền sử dụng 1/8 diện tích đất của thửa số 1490 và thửa số 5 cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không được người đại diện theo ủy quyền của chị L đồng ý nên kháng cáo của ông P không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3.9] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông P, bà N1, anh T4 đề nghị hủy án sơ thẩm, lý do vụ án có yếu tố nước ngoài nhưng Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh thụ lý, giải quyết là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Tòa sơ thẩm không thu thập đầy đủ chứng cứ. Xét thấy cơ quan có thẩm quyền không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa số 1569, 1551, 1552, 1462, 1463 cho ông Nguyễn Thế P vào ngày 10/11/1991; đối với anh Nguyễn Nhật M, sinh năm 2000; đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp tuy đã ở nước ngoài từ năm 2020 nhưng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự trên có cơ sở để xác định thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu năm 1991 thì anh M chưa được sinh ra, năm 2003, 2017 Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông P thì anh M là trẻ em, là học sinh và không có sử dụng đất, từ năm 2020 đến nay du học ở Hoa Kỳ. Tại Tòa án cấp sơ thẩm, chị L không yêu cầu đưa anh Nhật M tham gia tố tụng do không là thành viên trong hộ được cấp quyền sử dụng đất thửa số 5 và 1490, anh T4 và chị H, ông P và bà N1 đều xác định anh M không có công sức đóng góp vào các tài sản mà chị L tranh chấp, không liên quan đến vụ án, đề nghị không đưa anh M vào tham gia tố tụng; đáng lẽ Tòa án cấp sơ thẩm nhận định không đưa anh Nhật M và Tiến M1 vào tham gia tố tụng với tư cách bị đơn mới là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T4, anh Nguyễn Nhật M có cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh từ năm 2020 anh M đã xuất cảnh đến Hoa Kỳ và hiện đang sinh sống và học tập ở Hoa Kỳ, tại văn bản ý kiến ngày 25/5/2025 anh M yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại theo thẩm quyền để anh M thực hiện các thủ tục tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh M. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng như trên, nhưng vi phạm tố tụng này không làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án như đã nhận định trên nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không hủy án sơ thẩm theo yêu cầu của ông P, bà N1, anh T4, anh Nhật M.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng khi chuyển sang vụ án dân sự, có thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng không thực hiện đầy đủ thủ tục trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt, nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị Nghĩa L2 người cao tuổi theo quy định pháp luật, xin miễn nộp án phí nên được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm, ông P được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1 do chưa phù hợp như đã nhận định nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[6] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế P, giữ nguyên bản án sơ thẩm do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. Hội đồng xét xử có điều chỉnh về cách tuyên án.

[7] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, 148, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 73, Điều 74 Luật đất đai năm 1993; Điều 3, Điều 100, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các điều 208, 209, 212, 219 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế P.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 271/2024/DS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2024, được sửa chữa, bổ sung ngày 19/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết L.
  2. Anh Nguyễn Nhật T4 có 1/3 quyền sử dụng diện tích đất 2.463,6m², tại thửa số 5, tờ bản đồ số 10, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003 và 1/3 quyền sử dụng diện tích đất 5.703,6m², tại thửa số 1490, tờ bản đồ số 6, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017; đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Không chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Tuyết L yêu cầu xác định chị Nguyễn Ngọc H có ¼ quyền sử dụng diện tích đất 2.463,6m², tại thửa số 5, tờ bản đồ số 10, mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 28/11/2003 và ¼ quyền sử dụng diện tích đất 5.703,6m² tại thửa số 1490, tờ bản đồ số 6, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Thế P ngày 10/4/2017; đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 30/5/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/5/2024 của Tòa án).

  1. Về án phí sơ thẩm:

    Chị Nguyễn Thị Tuyết L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số: 0008277 ngày 06/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tiền án phí bà L đã nộp và chi xong.

    Ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Nhật T4, phải liên đới chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông P, bà Nghĩa là người cao tuổi theo quy định pháp luật được miễn nộp tiền án phí nên anh T4 phải chịu 100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  2. Chị Nguyễn Thị Tuyết L, ông Nguyễn Thế P, bà Nguyễn Thị N1, anh Nguyễn Nhật T4 phải liên đới chịu 11.845.657 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản. Do chị L đã nộp và chi xong số tiền 11.845.657 đồng nên ông P, bà N1, anh T4 mỗi người phải nộp số tiền 2.369.131 đồng để trả lại cho chị L.
  3. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Thế P là người cao tuổi theo quy định pháp luật nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
  • - Các đương sự;
  • - VKSND Tỉnh;
  • - TAND huyện Cao Lãnh;
  • - CCTHADS huyện Cao Lãnh;
  • - Phòng TT, KT và THA TAT;
  • - Lưu: VT, HS (Toàn)

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Nguyễn Thị Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 320/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 320/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger