Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 320/2025/DS-PT

Ngày: 11 - 11 - 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Thanh

Bà Lê Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến Hòa - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 133/2025/TLPT-DS ngày 18-7-2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 19-3-2025 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2025/QĐ-PT ngày 21-8-2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Hợp tác xã T3; địa chỉ: Số H N, phường I, quận F, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị L-Chủ tịch Hội đồng quản trị; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bình M, sinh năm 1981; địa chỉ: Số F đường C, KP8 (Nay là KP A), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn:

+ Bà Đặng Thị Lệ T, sinh năm 1969 và ông Trần Công N, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (Nay là thôn C, xã B, tỉnh Lâm Đồng); vắng mặt.

+ Ông Lê Mỹ C, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (Nay là thôn C, xã B, tỉnh Lâm Đồng); có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Mỹ C: Luật sư Trương Phúc  – Văn phòng luật sư Trương Phúc  thuộc Đoàn luật sư tỉnh L; địa chỉ: 5 H, phường C - Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.

+ Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (Nay là thôn C, xã B, tỉnh Lâm Đồng); vắng mặt.

+ Ông Phạm Văn H, sinh năm 1980; địa chỉ: H Khu phố E, phường T, Q, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là H Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Ánh T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (Nay là thôn C, xã B, tỉnh Lâm Đồng); có mặt.

+ Bà Trần Thị V, sinh năm 1985; địa chỉ: H Khu phố E, phường T, Q, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là H Khu phố E, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.

+ Ủy ban nhân dân tỉnh L; địa chỉ: D T, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay la D T, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng). Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc T2 – Phó Giám đốc Sở T4; vắng mặt.

Theo đơn kháng cáo của bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện nguyên đơn Hợp tác xã T3 (HTX T3) V trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 8, 9, 10 tờ bản đồ ĐCCS 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) cụ thể như sau:

Ngày 11/01/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh L cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 42121000154 cho Hợp tác xã T3 để thực hiện dự án đầu tư Nhà máy C2 tại thôn C, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ), diện tích đất sử dụng khoảng 15 ha.

Tại Công văn số 1670/UBND-ĐC, ngày 17/03/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh L chấp thuận quĩ đất cho HTX T3 thuê để xây dựng nhà máy C2 có diện tích đất khoảng 15 ha (trong đó: đất của hộ gia đình, cá nhân là 1,2 ha; đất rừng trồng do Lâm trường Lộc B là 13,8 ha) tại khoảnh 10 tiểu khu C xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. HTX T3 đã chi trả tiền hỗ trợ, bồi thường thông qua Ban đền bù giải phóng mặt bằng huyện B (cũ) và Ủy ban nhân dân xã L (cũ),

cụ thể như sau: Bồi thường diện tích đất 11.126m² thuộc tờ bản đồ, thửa 2 địa bàn thôn C, xã L, huyện B (cũ) cho ông K' Lé và bà Ka L1 179.230.000 đồng; tiền thưởng bàn giao mốc 10.000.000 đồng; bồi thường diện tích đất 3.150m² thuộc tờ bản đồ, thửa 3 địa bàn thôn C, xã L, huyện B (cũ) cho bà Đoàn Thị L2 46.940.000 đồng; tiền thưởng bàn giao mốc 6.000.000 đồng; bồi thường diện tích đất 1.232m² thuộc tờ bản đồ, thửa 8 địa bàn thôn C, xã L, huyện B (cũ) cho bà Ka Xuân L3 23.431.00 0 đồng; tiền thưởng bàn giao mốc 6.000.000 đồng.

Tại Quyết định 2784/QĐ-UBND, ngày 08/12/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh L đã thu hồi đất và cho HTX T3 thuê để đầu tư xây dựng nhà máy C2.

Ngày 12/07/2012, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 ký hợp đồng thuê đất số 108/HĐ-TĐ cho HTX T3 thuê 16.063m² để đầu tư xây dựng nhà máy C2. Ngày 07/06/2013, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T4 cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số CT00106.

Căn cứ kết quả đo vẽ ngày 28/7/2023 của Công ty N2, bà Đặng Thị Lệ T lấn chiếm 460,5m² đất thuộc một phần thửa số 8. Ông Lê Mỹ C lấn chiếm 322,1m² đất thuộc một phần thửa số 8 và 385,7m² đất thuộc một phần thửa số 9. Ông Nguyễn Văn N1 lấn chiếm 475,5m² đất thuộc một phần thửa số 8. Ông Phạm Văn H lấn chiếm 557,4m² đất thuộc một phần thửa số 8 đều thuộc tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

Do đó Hợp tác xã T3 yêu cầu bà T, ông C, ông N1, ông H trả lại diện tích đất đã lấn chiếm.

Bị đơn Đặng Thị Lệ T và Trần Công N trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 5.582,8m² thuộc thửa số 11 và một phần thửa số 8 tờ bản đồ 37 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) theo kết quả đo đạc của Công ty TNHH N2 là do bà và chồng (ông N) nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Bích V1 vào năm 2005; trong đó có diện tích đất 536,5m² thuộc một phần thửa số 8 mà HTX T3 tranh chấp. Bà đồng ý trả lại với điều kiện HTX thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo kết quả định giá là 401.393.500đ. Đối với việc bà Nguyễn Thị Bích V1 đã chuyển nhượng diện tích đất trên thì vợ chồng ông, bà không yêu cầu.

Bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1 trình bày:

Nguồn gốc diện tích 1959,1m² đất thuộc thửa số 20 tờ bản đồ 38 (tờ ĐCCS 6 cũ) tọa lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) là do ông bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc L4 vào năm 2008; trong đó có diện

tích đất 1481,1m² thuộc một phần thửa số 8, 9. Vợ chồng ông, bà đồng ý trả lại diện tích đất lấn chiếm với điều kiện HTX TMDVSX Vĩnh Phát thanh toán lại giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo kết quả định giá là 627.818.1004đ. Đối với việc ông Nguyễn Ngọc L4 đã chuyển nhượng diện tích đất trên thì vợ chồng ông, bà không yêu cầu.

Bị đơn Nguyễn Văn N1 trình bày: Vào ngày 01/12/2017, ông N1 sang nhượng lại của ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H1 diện tích đất 6m x 150m; có tứ cận phía đồng giáp rừng trồng, phía tây giáp đường Q, phía nam giáp đất ông K1, phía bắc giáp đất còn lại của ông Dương Văn C1 (Nay là đất của ông Phạm Văn H). Theo kết quả đo đạt tổng diện tích của ông N1 nhận chuyển nhượng là 700,1m² trong đó phần diện tích HTX T3 tranh chấp là 534,6m² thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ). Ông N1 đồng ý trả lại nhưng HTX TMDVSX Vĩnh Phát thanh toán giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo giá trị chứng thư thẩm định giá 413.145.000đ. Đối với việc ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H1 đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho ông, ông không yêu cầu gì.

Bị đơn Phạm Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị V trình bày: Ngày 17/7/2019, vợ chồng ông bà sang nhượng lại của ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H1 diện tích đất 9,5m x 100m. Việc chuyển nhượng bằng giấy viết tay, ông bà chưa trồng trọt hay xây dựng gì trên đất. Theo kết quả đo đạt tổng diện tích đất của vợ chồng là 1242,7m²; trong đó phần diện tích đất HTX T3 tranh chấp là 557,4m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ), vợ chồng ông đồng ý trả lại nhưng HTX T3 phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đất theo giá trị chứng thư thẩm định giá là 486.156.300đ. Đối với việc chuyển nhượng đất với ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H1, ông bà không yêu cầu gì.

Đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh L, ông Trần Quốc T2 trình bày:

Về nguồn gốc đất tranh chấp là đất tự khai phá của 03 hộ dân, chưa được cấp GCNQSD đất. Theo hồ sơ thể hiện, HTX T3 đã thỏa thuận đền bù với 03 hộ dân, đã nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng. Đất của 03 hộ dân này, được Ban đền bù GPMB huyện Bảo Lâm lập phương án bồi thường số 08/PA/BĐB ngày 18/7/2008 thể hiện chi tiết từng danh mục. Trên diện tích đất thuê có 03 hộ, qua kiểm tra 02 hộ là đối tượng người đồng bào dân tộc (diện tích tự khai phá để sản xuất không kê khai đăng ký trong bộ hồ sơ địa chính). Tuy nhiên, sau khi rà soát hồ sơ địa chính tại địa phương thì 02 trường hợp này diện tích sau khi chuyển nhượng (chưa kể diện tích khai phá này) còn lại hơn 1,0ha và đảm bảo theo quy định tại Quyết định số 54/2006/QĐ-UBND ngày 18/8/2006 của UBND tỉnh.

Về hồ sơ thuê đất của Hợp tác xã T3 là đúng như nguyên đơn trình bày (UBND tỉnh L có cung cấp chứng cứ kèm theo), đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 19-3-2025 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng) đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã T3 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn gồm vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N; vợ chồng ông Lê Mỹ C, bà Nguyễn Thị Ánh T1; ông Nguyễn Văn N1; vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Trần Thị V.

- Buộc vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N trả cho Hợp tác xã T3 460,5m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

- Buộc vợ chồng ông Lê Mỹ C, bà Nguyễn Thị Ánh T1 trả cho Hợp tác xã T3 710,8m² trong đó có 322,1m² đất thuộc một phần thửa số 8 và 385,7m² đất thuộc một phần thửa số 9 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

- Buộc ông Nguyễn Văn N1 trả cho Hợp tác xã T3 475,5m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

- Buộc vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Trần Thị V trả cho Hợp tác xã T3 557,4m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

(Có Họa đồ trích đo hiện trạng sử dụng đất được Công ty trách nhiệm hữu hạn N2 ký xác nhận vào ngày 28/7/2023 kèm theo).

- Giao cho Hợp tác xã T3 được quyền sở hữu, sử dụng 57 cây cà phê trồng năm 2009 trên phần diện tích 460,5m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) của vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N.

- Buộc nguyên đơn thanh toán giá trị 57 cây cà phê nêu trên cho vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N là 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành của các đương sự.

Ngày 26/3/2025, bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1 kháng cáo yêu cầu HTX T3 phải hoàn trả tiền đất như thẩm định giá.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1 giữ nguyên kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C và bà T1 trình bày: Diện tích đất đang tranh chấp là do ông C và bà T1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc L4, có xác nhận của UBND xã; UBND tỉnh L cho thuê đất vượt diện tích đã khảo sát; đất tranh chấp nằm ngoài phần đất khảo sát; UBND tỉnh L cho HTX T3 thuê đất nhưng không thông qua đấu giá; Tòa án cấp sơ thẩm nhập, tách vụ án không đúng quy định của pháp luật nên đề nghị hủy án để giải quyết lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1 nộp đúng hạn, người kháng cáo, thủ tục kháng cáo đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ánh T1, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Tại họa đồ đo vẽ ngày 28/7/2023 của CÔNG TY TNHH N2 thể hiện phần diện tích đất các bên tranh chấp là thuộc một phần thửa 8; thửa 9, tờ bản đồ 37 tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ). Đối với diện tích đất thuộc thửa 8, 9 nêu trên đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T4 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 926990 số vào số cấp GCN: CT00106 ngày 07/6/2013 cho HTX T3 với hình thức cho thuê trả tiền hàng năm thời hạn 50 năm.

[2.2] Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho HTX T3: Theo hồ sơ do UBND tỉnh L cung cấp thể hiện:

Đối với phần diện tích đất thuộc thửa 8, thửa 9, thửa 10 trước đó là của vợ chồng ông K' Lé, bà Ka L1; ông Ka Xuân L3 và bà Đoàn Thị L2 khai phá,

sử dụng. Ngày 30/7/2008 và ngày 31/7/2008, HTX T3 và các hộ đã thỏa thuận nhận tiền và bàn giao đất.

Ngày 11/11/2011, HTX T3 có đơn xin thuê đất. Ngày 06/12/2011, Sở T4 có Tờ trình số 998/TTr-STNMT đề nghị UBND tỉnh L thu hồi 16.063 m² đất do các hộ dân tự khai phá cho HTX T3 thuê đất để xây dựng nhà máy C2.

Ngày 08/12/2011, UBND tỉnh L đã ban hành Quyết định số 2784/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và cho HTX T3 thuê với diện tích 16.063 m² tại một phần tiểu khu C xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) với thời hạn 50 năm, đến nay vẫn chưa hết thời hạn và HTX T3 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[2.3] Về quá trình sử dụng đất của bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1, thấy rằng:

Vợ chồng ông C bà T1 cho rằng: Vào năm 2008, có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Ngọc L4 diện tích đất qua đo đạc là 1959,1m² trong đó có 322,1m² đất thuộc một phần thửa số 8 và 385,7m² đất thuộc một phần thửa số 9 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ). Tuy nhiên, đất chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho ông L4, việc sang nhượng thông qua giấy viết tay, không đúng quy định của pháp luật. Hiện trạng là đất trống.

Mặc khác, phần đất này Ủy ban nhân dân tỉnh L đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX T3 số BM 926990 số vào số cấp GCN: CT00106 ngày 07/6/2013.

[3]. Từ những phân tích trên thấy rằng không có căn cứ để buộc HTX T3 hoàn trả giá trị tiền đất cho nguyên đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1 nên không chấp nhận kháng cáo là phù hợp.

[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông C và bà T1 phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Lê Mỹ C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh T1. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm

số 11/2025/DS-ST ngày 19-3-2025 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng).

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã T3 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bị đơn gồm vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N; vợ chồng ông Lê Mỹ C, bà Nguyễn Thị Ánh T1; ông Nguyễn Văn N1; vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Trần Thị V.

1.1. Buộc vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N trả cho Hợp tác xã T3 460,5m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

1.2. Buộc vợ chồng ông Lê Mỹ C, bà Nguyễn Thị Ánh T1 trả cho Hợp tác xã T3 710,8m² trong đó có 322,1m² đất thuộc một phần thửa số 8 và 385,7m² đất thuộc một phần thửa số 9 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

1.3. Buộc ông Nguyễn Văn N1 trả cho Hợp tác xã T3 475,5m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

1.4. Buộc vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Trần Thị V trả cho Hợp tác xã T3 557,4m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ).

(Có Họa đồ trích đo hiện trạng sử dụng đất được Công ty trách nhiệm hữu hạn N2 ký xác nhận vào ngày 28/7/2023 kèm theo).

1.5. Giao cho Hợp tác xã T3 được quyền sở hữu, sử dụng 57 cây cà phê trồng năm 2009 trên phần diện tích 460,5m² đất thuộc một phần thửa số 8 tờ bản đồ ĐCCS 6 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (cũ) của vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N trồng.

1.6. Buộc Hợp tác xã T3 giá trị 57 cây cà phê cho vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T, ông Trần Công N số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự.

2. Về chi phí tố tụng:

Buộc vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T ông Trần Công N hoàn trả 5.308.000₫ (Năm triệu ba trăm lẻ tám nghìn đồng), vợ chồng ông Lê Mỹ C bà Nguyễn Thị Ánh T1 hoàn trả 8.194.000₫ (Tám triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đồng), ông Nguyễn Văn N1 hoàn trả 5.481.000đ (Năm triệu bốn trăm tám

mươi mốt ngàn đồng), vợ chồng ông Phạm Văn H bà Trần Thị V hoàn trả 6.427.000₫ (Sáu triệu bốn trăm hai mươi bảy nghìn đồng) cho Hợp tác xã T3.

3. Về án phí:

3.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1.1. Buộc vợ chồng bà Đặng Thị Lệ T ông Trần Công N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.1.2. Buộc vợ chồng ông Lê Mỹ C bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm

3.1.3. Buộc ông Nguyễn Văn N1 phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.1.4. Buộc vợ chồng ông Phạm Văn H bà Trần Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.1.5. Buộc Hợp tác xã T3 phải chịu 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc vợ chồng ông Lê Mỹ C và bà Nguyễn Thị Ánh T1 phải chịu 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ 600.000₫ đã nộp theo Biên lai số 0004796 ngày 14/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm (cũ). Ông C, bà T1 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 320/2025/DS-PT ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 320/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger