Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 320/2025/DS-PT

Ngày 01/7/2025

“Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Nhuận.

Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Phụng.

Bà Tôn Thị Thanh Thúy.

Thư ký phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Bích, Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2025/TLPT-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025, về “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Cần Thơ) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 114/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1943, địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lương Văn N thuộc Đoàn Luật sư Thành phố C (có mặt).

- Bị đơn: Bà Trịnh Thị Ú, sinh năm 1951, địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ) (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Hồng K (vắng mặt).
  2. Bà Trần Hồng Y (vắng mặt).
  3. Ông Trần Hồng T1 (vắng mặt).
  4. Bà Trần Hồng T2 (có mặt).
  5. Ông Nguyễn Quốc T3 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã T, Thành phố Cần Thơ).

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ông là con ruột và cũng là người thừa kế duy nhất của ông Nguyễn Thanh H (chết năm 1995) và bà Trịnh Thị K1 (chết năm 2023), theo tờ khai quan hệ thừa kế theo pháp luật, được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng chứng thực ngày 27/12/2023. Nguyên mẹ ông là bà Trịnh Thị K1 có đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa số 75, tờ bản đồ 06, tổng diện tích: 24.500m², loại đất Mùa, toạ lạc: ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 25/08/1994. Trong quá trình sử dụng đất thì mẹ ông có chuyển nhượng cho ông Đổ Văn M một phần đất thuộc thửa 75, diện tích 13.200m² và chiếm một phần đất diện tích 950m². Ông Đổ Văn Đ gian dối chiếm một phần đất thuộc thửa 75, diện tích 3.131 m². Do đó, thửa đất 75 mẹ ông còn lại diện tích là 7.219m². Đến ngày 15/5/2008, mẹ ông chuyển nhượng cho bà Trịnh Thị Ú một phần đất diện tích 5.850m² như vậy phần đất thuộc thửa 75 mẹ ông còn lại diện tích 1.369m². Tuy nhiên, trong quá trình bà Trịnh Thị Ú sử dụng phần đất nhận chuyển nhượng của mẹ ông thì bà Ú đã chiếm luôn phần diện tích đất còn lại của mẹ ông. Ông có yêu cầu chính quyền địa phương giải quyết nhưng không được.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trịnh Thị Ú phải có trách nhiệm trả lại cho ông phần đất lấn chiếm diện tích 1.369m², thuộc thửa số 75, tờ bản đồ 06, toạ lạc: ấp L, xã T, Thị xã N, tỉnh Sóc Trăng do bà Trịnh Thị K1 đứng tên quyền sử dụng đất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Thị Ú trình bày:

Vào năm 2008, bà có nhận chuyển nhượng một phần đất ruộng với diện tích 5.850m², thuộc thửa 75, tọa lạc: ấp L, xã T, Thị xã N, tỉnh Sóc Trăng của bà Trịnh Thị K1, sinh năm 1931. Sau khi chuyển nhượng thì bà đã làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất và hiện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 911, tờ bản đồ số 06. Từ khi, nhận chuyển nhượng đến nay thì bà sử dụng đúng phần đất đã nhận chuyển nhượng. Do phần đất chuyển nhượng xung quanh đều có bờ mẫu làm ranh. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng gia đình bà đã ban bỏ bờ mẫu giữa phần đất chuyển nhượng với thửa đất của bà thuộc thửa 937 (thửa cũ là 77). Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T cho rằng phần đất của bà K1 chuyển nhượng cho bà còn dư lại 1.369m² và hiện do bà chiếm sử dụng là không đúng, do vậy bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T.

2

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Hồng T2 trình bày: Thống nhất với lời trình bày của mẹ bà là bà Trịnh Thị Ú, ngoài ra không có yêu cầu gì khác.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc buộc bị đơn bà Trịnh Thị Ú trả lại phần đất diện tích 1.369m², thuộc thửa 911 (một phần thửa cũ 75), tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
  2. Về chi phí thẩm định và định giá: Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu với tổng số tiền là 22.450.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Nguyên đơn đã thực hiện xong.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được miễn không phải chịu.”

Ngoài ra, bản án còn quyết định về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17/02/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo cùng nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày tranh luận: Hiện trạng phần đất tranh chấp giữa ông T và bà Ú đã được ban bờ sát nhập thửa 75 với thửa 77, do vậy để xác định chính xác được diện tích của từng thửa cần phải trích lục hồ sơ cấp giấy thửa đất số 77 và đo đạc tổng thể thửa đất này, nhưng cấp sơ thẩm chưa thực hiện. Về hình thể phần đất bà Ú sử dụng hiện nay chưa phù hợp với sơ đồ đo đạc tại thời điểm nhận chuyển nhượng tại cạnh tiếp giáp với thửa 76. So sánh diện tích thửa đất 75 bà K1 được cấp giấy trừ đi các phần đã chuyển nhượng thì diện tích còn lại thiếu trên 1.500m² nên việc ông T yêu cầu bà Ú giao diện tích 1.369m² là có cơ sở chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến: Về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị Ú trả lại phần đất lấn chiếm có diện tích là 1.369m², thuộc thửa số 75, tờ bản đồ 06, toạ lạc: Ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. Theo ông T trình bày vào năm 2008 mẹ ông là bà Trịnh Thị K1 có chuyển nhượng cho bà Ú một phần đất thuộc thửa 75, diện tích 5.850m², phần diện tích còn lại 1.369m² thuộc thửa số 75 bà Ú chiếm sử dụng đến nay. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T xác định vị trí phần đất dư bị bà Ú chiếm sử dụng là tại cạnh hướng đông tiếp giáp với phần đất còn lại của thửa 75 mà mẹ ông chừa lại không có chuyển nhượng, hiện nay ông đang cho người khác thuê.

[2] Qua xem xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trịnh Thị Ú đối với phần đất nhận chuyển nhượng của bà Trịnh Thị K1, tại thời điểm cấp giấy có tiến hành đo đạc hiện trạng phần đất chuyển nhượng giữa các bên, theo sơ đồ trích đo thực địa thửa đất lập ngày 07/5/2008 của UBND xã T thể hiện phần đất bà K1 chuyển nhượng cho bà Ú có vị trí tứ cận như sau: Cạnh hướng Bắc là giáp thửa 617, cạnh hướng Nam là giáp thửa 77 và thửa 76, cạnh hướng Tây là giáp kênh thủy lợi, cạnh hướng Đông là giáp với phần còn lại của 75 (không có chuyển nhượng). Qua đối chiếu với sơ đồ đạc hiện trạng thực tế phần đất tranh chấp giữa các bên thể hiện bà Ú đang quản lý sử dụng đất đúng vị trí đã nhận chuyển nhượng, 04 hướng của phần đất tiếp giáp đúng theo sơ đồ đo đạc lập ngày 07/5/2008. Đồng thời, sau khi chuyển nhượng cho bà Ú thì thửa đất số 75 của bà K1 còn lại diện tích là 3.312m² được điều chỉnh biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tại phiên tòa phúc thẩm ông T xác nhận hiện nay ông cho người khác thuê phần diện tích này. Phần đất bà Ú nhận chuyển nhượng đất của bà K1, các bên đã thực hiện bàn giao đất và bà Ú đã quản lý sử dụng ổn định từ năm 2008 cho đến nay, bà K1 không có ý kiến phản đối hay khiếu nại cho đến khi mất vào năm 2023. Do vậy, việc ông T cho rằng bà Ú chiếm sử dụng diện tích 1.369m², thuộc thửa số 75 là không có cơ sở, vì vậy cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của ông T, chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Các nội dung khác trong quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nhưng ông thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

4

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/2025/DS-ST ngày 04 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng đã tuyên xử:

    “1/. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc buộc bị đơn bà Trịnh Thị Ú trả lại phần đất diện tích 1.369m², thuộc thửa 911 (một phần thửa cũ 75), tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp L, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.

    (Có sơ đồ kèm theo)

    2/. Về chi phí thẩm định và định giá: Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu với tổng số tiền là 22.450.000 đồng (hai mươi hai triệu bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Nguyên đơn đã thực hiện xong.

    3/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T được miễn không phải chịu.”

  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nhưng ông thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn nộp tiền.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Phạm Quang N1

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Nơi nhận:

- Phòng KTNV TA TP Cần Thơ;

- TAND Khu vực 7 – Cần Thơ;

- VKSND Thành phố Cần Thơ;

- VKSND Khu vực 7 – Cần Thơ;

- Phòng THADS Khu vực 7– Cần Thơ;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Quang Nhuận

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 320/2025/DS-PT ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 320/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: GIỮ NGUYÊN BẢN ÁN SƠ THẨM
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger