|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 320/2024/HSST | Ngày: 04/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Kim Liên
2/ Ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án
nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 471/2024/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1819/2024/HSST-QĐ ngày 20/11/2024 đối với các bị cáo:
-
Bùi Quang D; Giới tính: Nam; sinh năm 2001; Tại: Tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Cư trú: 18/4B, ấp B, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Bùi Quang L; Mẹ: Nguyễn Thị D1; hoàn cảnh gia đình: Vợ/con: Chưa có; T án/Tiền sự: Không
Bị bắt giam ngày 26/01/2024 (BL 188; 190; 192)– Có mặt.
-
Huỳnh Văn S; Giới tính: Nam; Sinh năm 2000; Tại: Tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký thường trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Cư trú: Nhà không số, Tổ C, Ấp G, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Cha: Huỳnh Văn H, Mẹ: Huỳnh Thị Thanh L1, hoành cảnh gia đình: Vợ/con: Chưa có; Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 05/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 218/2022/QĐ-TA thời hạn 15 tháng. Đến ngày 21/11/2023 chấp hành xong (bút lục 290-292).
Bị bắt giam ngày 26/01/2024 (Bl 187; 189; 191) - Có mặt.
*Người bị hại:
-
Vũ Thị D2, sinh năm 1987
HKTT: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: 2/234, ấp T, xã T, huyện H, TP . – Vắng mặt.
-
Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1970
HKTT: Tổ 1, ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương
Trú tại: nhà không số, tổ F, ấp T, xã T, huyện H, TP . – Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Trần Ngọc D3, sinh năm 1985
HKTT: Hải Trường, Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Cư trú: 24/5H, ấp Tam Đông 1, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
-
Mai T, sinh năm 1992
HKTT: khu phố 8, Tam Quan, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Cư trú: 199, Phan Văn H1, xã X, huyện H, TP . – Có mặt.
-
Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1998
HKTT: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
Cư trú: 8/8, Nguyễn Thị S1, ấp H, xã B, huyện H, TP . – Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Huỳnh Văn S và Bùi Quang D đã rủ nhau thực hiện các vụ Cướp giật tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 10/01/2024, D điều khiển xe mô tô Yamaha Exciter, gắn biển số 60B9-510.22 chở S chạy trên tuyến đường N thuộc xã X, huyện H tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khi cả hai đi đến bãi đất trống thuộc đường N, xã X, huyện H thì phát hiện bà Vũ Thị D2 đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave chạy phía trước, trong túi quần bên phải có để 02 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A53 và S3 A13 nên D điều khiển xe mô tô áp sát vào xe của bà D2 để S ngồi phía sau giật 02 điện thoại di động để trong túi quần của bà D2 rồi cả hai nhanh chóng tăng ga tẩu thoát. Sau đó cả hai đem 02 điện thoại di động vừa cướp giật được đến cửa hàng điện thoại “Tiến Phát” địa chỉ số A, đường T, ấp Đ, xã T, huyện H gặp ông Trần Ngọc D3 để chạy lại chương trình (02 điện thoại di động này không cài mật khẩu). Sau khi chạy lại chương trình thì D và S đem bán 02 điện thoại này cho bà Mai Thiên G chủ cửa hàng điện thoại tại địa chỉ số A, đường P, xã X, huyện H được 3.200.000 đồng. S và D chia nhau mỗi người 1.600.000 đồng, số tiền này cả hai đã tiêu xài hết.
Khi sự việc xảy đến 09 giờ ngày 29/10/2024, bà D2 mới đến Công an Q trình báo sự việc.
Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 16/01/2024, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 59Y1-223.02 đến nhà trọ địa chỉ số A, ấp B, xã B, huyện H để gặp và rủ D đi cướp giật tài sản thì D đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, được gắn biển số 60B9-510.22 chở S ngồi sau chạy trên các tuyến đường thuộc khu vực Quận A tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả hai đi đến trước địa chỉ số A, đường S, QL22, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A thì cả hai phát hiện bà Nguyễn Thị Tuyết N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM EZS, biển số 59V1-387.57 đang chạy phía trước, tay trái đang sử dụng điện thoại nhãn hiệu Oppo Reno6 Z 5G nên D điều khiển xe chạy vượt lên áp sát vào bên trái xe mô tô của bà N, S ngồi phía sau dùng tay phải giật điện thoại di động của bà N rồi cả hai nhanh chóng tăng ga tầu thoát. Sau khi cướp giật được điện thoại, D chở S về phòng trọ của D cất xe mô tô gắn biển số 60B9-510.22 và điều khiển xe mô tô biển số 59Y1-223.02 chở S đi bán điện thoại vừa cướp giật được. Trên đường đi, S kiểm tra thấy điện thoại cướp giật được không có cài mật khẩu và sau ốp lưng điện thoại có số tiền 600.000 đồng nên cất giữ và tháo sim, ốp lưng của điện thoại vứt bỏ bên đường (không nhớ vị trí vứt). Sau đó, cả hai đi đến cửa hàng điện thoại “Xuân Trường M" địa chỉ số H, đường N, ấp H, xã B, huyện H bán điện thoại này cho ông Nguyễn Xuân T1 với giá 2.000.000 đồng. Số tiền bán điện thoại và tiền để sau ốp điện thoại là 2.600.000 đồng, S và D chia nhau mỗi người 1.300.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi sự việc xảy ra, đến 19 giờ 10 phút ngày 23/01/2024, bà N mới đến Công an phường T, Quận A trình báo sự việc.
Tại Cơ quan điều tra, S và D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập (bút lục 14-18, 22-26, 94-95, 153-158).
Bản cáo trạng số 342/CT-VKS, ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Bùi Quang D và Huỳnh Văn S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi Quang D và Huỳnh Văn S khai nhận hành vi điều khiển xe mô tô áp sát dùng tay phải giật điện thoại di động của bà N, bà D2 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mai Thiên G trình bày: Bà không biết 02 điện thoại di động do các bị cáo mang đến bán là tài sản do phạm tội mà có. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bà G không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền 3.200.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Bùi Quang D và Huỳnh Văn S về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Bùi Quang D với mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Bị cáo Huỳnh Văn S với mức án từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Bùi Quang D và Huỳnh Văn S không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 10/01/2024, tại bãi đất trống thuộc đường N thuộc xã X, huyện H. Huỳnh Văn S và Bùi Quang D đã có hành vi sử dụng xe mô tô nhanh chóng chiếm đoạt 02 điện thoại di động của bà Vũ Thị D2. Đến khoảng 15 giờ ngày 16/01/2024, tại trước địa chỉ số A đường S, Tổ A, Khu phố C, phường T, Quận A. S và D tiếp tục có hành vi sử dụng xe mô tô nhanh chóng chiếm đoạt 01 điện thoại di động của bà Nguyễn Thị Tuyết N rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Hành vi nêu trên của Bùi Quang D và Huỳnh Văn S đã phạm vào tội Cướp giật tài sản, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 01/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G, màu trắng xanh, trị giá 3.550.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh, trị giá 2.400.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53, màu xanh, trị giá 2.250.000 đồng (Bút lục 243-249).
Bùi Quang D và Huỳnh Văn S điều khiển xe mô tô giằng, giật 03 điện thoại di động với tổng giá trị 8.200.000 đồng rồi bỏ chạy. Hành vi nêu trên của Bùi Quang D và Huỳnh Văn S đã phạm tội theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an địa phương. Bị cáo Huỳnh Văn S có nhân thân xấu: Ngày 05/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với các bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo D chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại....... Để cho bị cáo Bùi Quang D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Huỳnh Văn S được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Tuyết N đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 Z 5G, không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 600.000 đồng (bút lục 276, 280). Bà Vũ Thị D2 đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A13, màu xanh (bút lục 340, 341). Các bà N, D2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng thu giữ:
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59Y1-223.02. Qua xác minh, xe mô tô trên do ông Huỳnh Thanh V đứng tên đăng ký. Ông V khai cho S mượn để đi lại, không biết S sử dụng xe mô tô này để làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại xe cho ông Huỳnh Thanh V (bút lục 278-279) là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 70L1-396.72, số máy: 1S94029949, số khung: RLCE1S9407Y014886 và 01 biển số 60B9-510.22; Qua làm việc, D khai nhận xe mô tô trên D mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở trên trang Web Chotot.com với giá 15.000.000 đồng, có giấy tờ xe nhưng D đã làm mất.
Qua xác minh, biển số 70L1-396.72 là của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius do ông Nguyễn Văn Ư đứng tên đăng ký. Qua làm việc ông Nguyễn Văn Ư cho biết xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số: 70L1-396.72 hiện ông Ư vẫn còn đang sử dụng (bút lục 163-164). Tại Kết luận giám định số 3479/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: Không đủ cơ sở kết luận biển số xe mô tô 70L1-396.72 là thật hay giả (bút lục 269).
Tại Kết luận giám định số 2071/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, số máy: 1S94029949, số khung: RLCE1S9407Y014886 có số khung, số máy: Không bị đục lại số (bút lục 270).
Xác minh khung xe mô tô số: RLCE1S9407Y014886 là của xe môtô Yamaha Exciter, biển số 59Y1-896.44, có số máy: 1S94014886 do ông Huỳnh Tấn C là chủ sở hữu. Qua làm việc ông Huỳnh Tấn Công K xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 59Y1-896.44, số máy: 1S94014886, số khung: RLCE1S9407Y014886 mua vào tháng 02/2016, đến tháng 7/2016 bị kẻ gian trộm mất nhưng ông C không trình báo sự việc lên Cơ quan Công an (bút lục 173, 174). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại khung xe mô tô số RLCE1S9407Y014886 cho ông Huỳnh Tấn C (bút lục 277, 281).
Xác minh số máy xe mô tô số: 1S94029949 là của xe môtô Yamaha Exciter, biển số: 54Y2-3135 do ông Lương Ngọc T2, đăng ký thường trú số H, Khu phố A, phường T, Quận A đứng tên đăng ký. Qua xác minh tại địa phương gia đình ông T2 đã bán nhà đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành đăng báo mời ông Lương Ngọc T2 làm việc nhưng chưa có kết quả (bút lục 264, 268).
Đối với 01 (một) biển số 60B9- 510.22, D khai nhận do một người tên T3 (quen biết ngoài xã hội, không rõ lai lịch) cho để sử dụng. Qua xác minh, biển số này là của xe mô tô nhãn hiệu Honda Future do ông Lê Văn S2 đứng tên đăng ký. Qua làm việc ông Lê Văn S2 cho biết xe mô tô này hiện vẫn còn đang sử dụng (bút lục 161, 162). Tại Kết luận giám định số 3479/KL-KTHS ngày 19/3/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H đối với biển số xe mô tô 60B9-510.22 kết luận: Không đủ cơ sở kết luận biển số xe mô tô 60B9-510.22 là thật hay giả (bút lục 269).
Vì vậy cần giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với động cơ xe 1S94029949. Nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Đối với các biển số 70L1-396.72; biển số 60B9-510.22. Qua xác minh không xác định được thật hay giả nên tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh đen; 01 (một) quần jean ngắn màu trắng xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám trắng; 01 (một) quần jean dài đen; 01 (một) áo sơ mi sọc caro (do S và D mặc khi đi cướp giật) cần tịch thu tiêu hủy
Đối với 01 (một) USB có chứa đoạn video clip ghi nhận hình ảnh vụ việc, cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi Trần Ngọc D3 chạy lại chương trình điện thoại bị cướp giật cho các bị cáo S, D. Mai Thiên G mua 02 điện thoại với giá 3.200.000 đồng do bị cáo S, D phạm tội mà có. Nguyễn Xuân T1 mua 01 điện thoại với giá 2.000.000 đồng do bị cáo S, D phạm tội mà có. Qua điều tra, các ông bà D3, G, T1 không biết các tài sản trên do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xử lý hình sự. Tại cơ quan điều tra ông T1 và G không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền nêu trên (bút lục 159-160, 166-169) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Do các bị cáo còn hoàn cảnh khó khăn nên không buộc nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang D và Huỳnh Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản"
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt
-
Bị cáo Bùi Quang D 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
-
Bị cáo Huỳnh Văn S 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2024.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mũ bảo hiểm màu xanh đen; 01 (một) quần jean ngắn màu trắng xanh; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám trắng; 01 (một) quần jean dài đen; 01 (một) áo sơ mi sọc caro. 01 biển số 70L1-396.72; 01 biển số 60B9-510.22.
Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận A: Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với: 01 (một) động cơ xe 1S94029949, đã qua sử dụng. Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 302/QĐ-VKS ngày 13/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 đồng.
Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |
Bản án số 320/2024/HSST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 320/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Bùi Quang D và Huỳnh Văn S phạm tội “Cướp giật tài sản” Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
