Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 320/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 7 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn K - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 286/2024/HSST ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QĐST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm: 1979, tại Thái Bình; nơi thường trú: Số C Đường B, Khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số B, Đường A, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Quản lý khách sạn; con ông Nguyễn Quyết T, sinh năm 1952 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1956; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 03 anh chị em; chồng: Đào Duy H1, sinh năm 1975 và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2023 đến ngày 25/12/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 45 phút ngày 28/10/2023, Đ Công an thành phố T phối hợp với Công an phường L, thành phố T tiến hành kiểm tra hành chính Khách sạn T4, địa chỉ: Số B đường H, phường L, thành phố T phát hiện tại phòng 202 và phòng 203 của khách sạn có 02 cặp nam nữ đang thực hiện hành vi mua bán dâm, cụ thể: Tại phòng 202, Nguyễn Thị T1Đặng Hữu H2 đã thực hiện xong hành vi mua bán dâm và tại phòng 203, Tạ Hiệp T2Nguyễn Thị K1 đang thực hiện hành vi mua bán dâm. Ngoài ra còn có Lê Thị P ở phòng 402, Lê Thị N ở phòng 204, Trần Thị Bích G ở phòng 104 và Vũ Thị N1 ở phòng 001. Qua làm việc tất cả đều khai nhận ở tại khách sạn để chờ khi có khách đến mua dâm thì thực hiện hành vi bán dâm.

Đ Công an thành phố TCông an phường L, thành phố T đưa những người liên quan cùng Nguyễn Thị H là chủ khách sạn về Cơ quan Công an để làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đặng Hữu H2, Tạ Hiệp T2, Nguyễn Thị T1Nguyễn Thị K1 khai nhận: Do có nhu cầu tìm gái bán dâm để mua dâm nên vào khoảng 15 giờ ngày 28/10/2023, H2T2 thống nhất lên mạng xã hội Google tìm và nhập vào trang “Gaigu.tv” thấy hình ảnh, số điện thoại 0983.092.xxx và giá bám dâm của gái bán dâm nên H2 gọi điện liên hệ mua dâm thì gặp Nguyễn Thị T1. H2 nói với T1 cần mua dâm 02 người nữ, trong lúc T1 nói chuyện với H2 thì Nguyễn Thị K1 ngồi bên cạnh T1 nghe được và K1 nói với T1 để K1 đi với bạn của H2T2. Sau đó, T1 kêu H2 đến khách sạn T4, địa chỉ: Số B đường H, phường L, thành phố T lấy phòng rồi báo cho T1 biết. Khi đến khách sạn H2T2 thuê 02 phòng số 202 và 203 rồi H2 nhắn tin báo cho T1H2 ở phòng số 202 còn T2 ở phòng số 203. Khoảng 05 phút T1 vào phòng số 202 của H2, còn K1 vào phòng số 203 của T2. Khi T1 vào phòng, H2 lấy số tiền 700.000 đồng, trong đó 600.000 đồng là tiền mua dâm của H2T2, còn 100.000 đồng là H2 bo thêm cho T1. Sau đó, H2T1 quan hệ tình dục, khi đang quan hệ tình dục với nhau thì Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện. Còn T2K1 sau khi quan hệ tình dục xong, cả hai mặc lại đồ chuẩn bị đi về thì Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện đưa về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận: H thuê lại khách sạn T4, địa chỉ: Số B đường H, phường L, thành phố T để kinh doanh từ năm 2019 đến nay. Khách sạn của H hiện có 05 người nữ thuê phòng gồm: Nguyễn Thị K1 ở phòng số 304, Vũ Thị N1 ở phòng 001, Trần Thị Bích G ở phòng 104, Lê Thị N ở phòng 204 và Lê Thị P ở phòng 402. Tất cả đều thuê phòng ở để hoạt động bán dâm tại khách sạn của H, còn đối với Nguyễn Thị T1 khi nào có khách thì T1 mới đến khách sạn để bán dâm nhưng T1 không ở lại khách sạn. H biết K1, N1, G, NP thuê phòng để mua bán dâm nhưng H vẫn đồng ý để hoạt động mua bán dâm diễn ra ở khách sạn của H, vì như vậy khách sạn của H sẽ có nhiều khách đến thuê phòng hơn và có doanh thu nhiều hơn. H chỉ cho những người này thuê phòng ở, không cung cấp vật dụng gì liên quan đến hoạt động mua bán dâm. Khi có khách vào thì H chỉ lấy tiền phòng do khách vào thuê phòng. Mỗi phòng H thu 100.000 đồng/01 giờ và giờ tiếp theo H thu thêm 20.000 đồng mỗi giờ. Việc những người này mua bán dâm là do tự thỏa thuận với nhau, thỏa thuận như thế nào và giá bán dâm như thế nào thì H không biết và cũng không thu tiền hoa hồng. Quá trình kinh doanh tại khách sạn, H thuê Trương Thị T3 làm giúp việc dọn dẹp các phòng khi khách thuê trả phòng, khi H bận công việc thì T3 xuống quầy lễ tân trông coi, khi có khách đến thuê phòng thì đưa chìa khóa cho khách và khi khách trả phòng thì thu tiền. T3 không biết H cho những người trên thuê khách sạn ở để hoạt động mua bán dâm.

Vật chứng thu giữ:

  • 02 vỏ bao cao su màu vàng nhãn hiệu VRT, trên bề mặt có ghi chữ LOT BVR12042302 HSD: 03/2028 (đã bị xé rách);
  • 02 bao cao su (đã qua sử dụng);
  • Tiền Ngân hàng N3: 700.000 đồng (thu giữ Nguyễn Thị T1).

Cáo trạng số: 291/CT-VKS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 28/10/2023, tại Khách sạn T4, địa chỉ: Số B đường H, phường L, thành phố T do H làm chủ. Vì muốn khách sạn có nhiều khách đến thuê phòng và có doanh thu nhiều hơn nên bị cáo đã cho Nguyễn Thị K1 thuê ở để hoạt động mua bán dâm tại khách sạn.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự trị an xã hội, đạo đức, thuần phong mỹ tục, đời sống văn hoá lành mạnh được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi chứa chấp mại dâm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi nên đã cố ý cho người khác thuê phòng để xảy ra hoạt động mua bán dâm tại cơ sở do mình quản lý. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 327 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Đặng Hữu H2, Tạ Hiệp T2 là người mua dâm; Nguyễn Thị K1, Nguyễn Thị T1, Vũ Thị N1, Trần Thị Bích G, Lê Thị NLê Thị P là người bán dâm nhưng đều trên 18 tuổi nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Đối với Trương Thị T3 là người Hoàn thuê giúp việc. Tuy nhiên, T3 không biết H cho những người trên thuê khách sạn ở để hoạt động bán dâm nên không có căn cứ xử lý hình sự.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, có tham gia một số hoạt động ủng hộ, thiện nguyện đợt dịch Covid 19 (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt. Bên cạnh đó, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 327 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với số tiền 700.000 đồng thu giữ Nguyễn Thị T1 đồng là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 02 vỏ bao cao su màu vàng nhãn hiệu VRT, trên bề mặt có ghi chữ LOT BVR12042302, HSD: 03/2028 (đã bị xé rách); 02 bao cao su (đã qua sử dụng) là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sư sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm".
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án.

  3. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 700.000 đồng.

      (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 213/QĐ-VKSTĐ ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt ngày 03/6/2024 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ1 – Chi nhánh thành phố T – Phòng Giao dịch Võ Văn N2).

    • Tịch thu tiêu hủy:
      • + 02 vỏ bao cao su màu vàng nhãn hiệu VRT, trên bề mặt có ghi chữ LOT BVR12042302 HSD: 03/2028 (đã bị xé rách);
      • + 02 bao cao su (đã qua sử dụng).

      (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 213/QĐ-VKSTĐ ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức).

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

    Bị cáo có tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích về chế định án treo cho bị cáo)

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 320/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (chứa mại dâm)

  • Số bản án: 320/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ H BỊ TUYÊN TỘI CHỨA MẠI DÂM
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger