|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày: 09-7-2024
V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Lê Phương Thảo và bà Trần Thị Thanh Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Lê Diệu Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 136/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022 về “Tranh chấp chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-DS ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1934; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Đ, sinh năm 1966 và ông Lê N1, sinh năm 1974; cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1999; địa chỉ: Số G đường T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Minh B - Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: Số G đường T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 09/3/2022, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Bà Phạm Thị L và ông Lê T chung sống, đăng ký kết hôn vào năm 1954 và có 03 người con chung là Lê Thị K, Lê Đ và Lê Ngọc. Ngoài ra, vợ chồng không ai có người con riêng nào khác. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà L và ông T có tạo lập được thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, diện tích 464m² và căn nhà cấp 4 trên đất có diện tích xây dựng 81,4m² tọa lạc tại địa chỉ thôn C, xã T, thành phố H (trước đây là thị xã H), tỉnh Thừa Thiên Huế, đã được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 683189 ngày 05/11/2013 cho bà Phạm Thị L - là người đại diện của những người thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của ông Lê T cùng những người thừa kế khác là Lê Thị K, Lê Đ và Lê Ngọc.
Ngày 22/6/1998, ông Lê T chết không để lại di chúc. Bà Phạm Thị L yêu cầu Toà án phân chia di sản thừa kế của ông Lê T để lại trong khối tài sản chung của vợ chồng bà L, ông T là ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà trên đất thành 04 kỷ phần bằng nhau cho tất cả các đồng thừa kế. Bà Phạm Thị L yêu cầu được nhận thừa kế bằng hiện vật là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và có trách nhiệm thanh toán lại giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế khác được nhận.
Đối với phần diện tích hiện nay có sự tăng thêm 50,8m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (tăng từ 464m² lên 514,8m²), bà Phạm Thị L không có yêu cầu phân chia và không có yêu cầu giải quyết phần diện tích đất tăng thêm này.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đồng ý với các ý kiến trình bày của nguyên đơn.
- Bị đơn bà Lê Thị K trình bày: Bà K thống nhất với các ý kiến của nguyên đơn về việc ông Lê T, bà Phạm Thị L có tạo lập được ngôi nhà và đất tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời kỳ hôn nhân. Năm 1998, ông Lê T chết không để lại di chúc. Việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế của ông Lê T trong khối tài sản chung của vợ chồng bà L, ông T là ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà thờ thì bà K yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà K có yêu cầu được nhận phần kỷ phần mà mình được hưởng bằng hiện vật là đất để làm nơi thờ tự ông bà, cha mẹ sau này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Đ trình bày: Ông Đ thống nhất với các nội dung trình bày của nguyên đơn. Ông Đ đề nghị nhận giá trị kỷ phần thừa kế của mình, đồng thời tặng phần kỷ phần thừa kế mà mình được nhận cho bà Phạm Thị L. Đối với ngôi nhà và phần mái che do ông Đ trực tiếp xây dựng trên đất, ông Đ đề nghị giao lại cho bà Phạm Thị L toàn quyền sở hữu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê N1 trình bày: Ông N1 thống nhất với các nội dung trình bày của nguyên đơn. Ông N1 đề nghị nhận giá trị kỷ phần thừa kế của mình, đồng thời tặng phần kỷ phần thừa kế mà mình được nhận cho bà Phạm Thị L. Đối với ngôi nhà trên đất và phần mái che do ông N1 trực tiếp xây dựng, ông N1 đề nghị giao lại cho bà Phạm Thị L toàn quyền sở hữu.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 612, Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 và Điều 660 Bộ luật dân sự; Áp dụng Điều 33, Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình; Áp dụng Điều 95 và Điều 170 Luật Đất đai; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của các đồng thừa kế như sau: Ông Lê Đ và ông Lê Ngọc n giá trị kỷ phần của mình đồng thời tặng phần kỷ phần thừa kế mà mình được nhận cho bà Phạm Thị L. Đối với tài sản trên đất là ngôi nhà và mái che do ông Lê Đ xây dựng, 02 ngôi nhà và mái che do ông Lê N1 xây dựng, ông Lê Đ và ông Lê N1 đều tự nguyện tặng cho bà Phạm Thị L nên cần ghi nhận. Giao cho bà Phạm Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, diện tích 464m² và sở hữu toàn bộ tài sản trên đất tọa lạc tại địa chỉ thôn C, xã T, thành phố H (trước đây là thị xã H), tỉnh Thừa Thiên Huế, đã được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 683189 ngày 05/11/2013. Bà Phạm Thị L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký chỉnh lý biến động đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được chia thừa kế nói trên theo quy định tại Điều 95 và Điều 170 Luật Đất đai. Bà Phạm Thị L có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Lê Thị K số tiền là 193.315.678 đồng.
- Về án phí: Bà Phạm Thị L và bà Lê Thị K được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần mà bà L, bà K được hưởng. Đối với 02 kỷ phần mà bà L được nhận từ ông Lê Đ và ông Lê N1 thì bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
- Về thủ tục tố tụng:
Bà Phạm Thị L khởi kiện tranh chấp chia di sản thừa kế với bà Lê Thị K. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố H nên tranh chấp thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Huế theo quy định tại khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà Phạm Thị L và ông Lê T là vợ chồng nên theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, bà L và ông T có phần quyền ngang nhau đối với khối tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, mỗi người có quyền đối với ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà do bà L, ông T xây dựng - là ngôi nhà được đánh số (1) tại Bản vẽ hiện trạng nhà, đất số 1500 ngày 02/5/2024 của Văn phòng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các đương sự đều thừa nhận ông Lê T chết năm 1998 không để lại di chúc nên di sản thừa kế của ông T được chia theo pháp luật là ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ½ giá trị ngôi nhà trên đất. Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án và các đương sự đều thống nhất xác định vợ chồng bà L, ông T trong quá trình chung sống có 03 người con chung gồm bà Lê Thị K, ông Lê Đ và ông Lê N1, ngoài ra vợ chồng không ai có người con riêng nào khác; cha, mẹ của ông T là ông Lê L1 và bà Nguyễn Thị Q đều chết trước ông T. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật dân sự để xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê T theo pháp luật là bà Phạm Thị L, bà Lê Thị K, ông Lê Đ và ông Lê Ngọc.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/3/2024 và Bản vẽ hiện trạng nhà, đất số 1500 ngày 02/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H, diện tích thửa đất hiện nay là 514,8m² là có sự biến động tăng thêm 50,8m² về diện tích đất so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp là 464m². Từ khi sử dụng thửa đất đến nay, thửa đất không có tranh chấp gì với những hộ liền kề và các hộ liền kề cũng đã xác định ranh giới với thửa đất bằng cách xây tường bao quanh. Mặt khác, bà Phạm Thị L chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo diện tích đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã được cấp nên Hội đồng xét xử chia di sản thừa kế theo diện tích đất là 464m².
Tại Biên bản định giá tài sản ngày 10/3/2023, thửa đất trên có đơn giá là 3.000.000 đồng/m², tương ứng với 464m² là 1.392.000.000 đồng; ngôi nhà mà bà L, ông T xây dựng có diện tích 72,6m² có giá trị là 154.525.426 đồng. Tổng giá trị thửa đất và công trình xây dựng trên đất là 1.546.525.426 đồng nên di sản của ông Lê T để lại tương ứng có giá trị là 773.262.713 đồng. Do người thừa kế theo pháp luật của ông T có 04 người nên mỗi người tương ứng với mỗi kỷ phần bằng nhau được hưởng thừa kế theo giá trị di sản của ông T để lại là 773.262.713đ : 4 = 193.315.678 đồng, tương ứng quyền sử dụng đất là 58m² đất và quyền sở hữu nhà ở là 9,075m².
Bà Phạm Thị L có yêu cầu được nhận di sản thừa kế của ông Lê T bằng hiện vật và thanh toán lại giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế khác được nhận. Ông Lê Đ và ông Lê Ngọc m người yêu cầu nhận giá trị kỷ phần thừa kế của mình được hưởng, đồng thời ông Lê Đ và ông Lê Ngọc t kỷ phần thừa kế của mình được hưởng cho bà Phạm Thị L. Bà Lê Thị K yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật. Hội đồng xét xử xét thấy tại biên bản xác minh ngày 16/5/2024, chính quyền địa phương cho biết hiện thửa đất thuộc quy hoạch khu vực di tích Lăng Thiệu Trị nên không tách thửa được. Bà Phạm Thị L có quyền đối với ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ½ giá trị tài sản gắn liền với đất là ngôi nhà do bà L, ông T xây dựng và được hưởng thêm 03 kỷ phần thừa kế (do ông Lê N1 và Lê Đức t1 cho) nên cần giao toàn bộ di sản thừa kế của ông Lê T để lại cho bà Phạm Thị L trực tiếp quản lý, sử dụng và bà L có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế là 193.315.678 đồng cho bà Lê Thị K là phù hợp. Bà Phạm Thị L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký chỉnh lý biến động theo quy định tại Điều 95 và Điều 170 Luật Đất đai.
Đối với tài sản trên đất là ngôi nhà và mái che do ông Lê Đ xây dựng, 02 ngôi nhà và mái che do ông Lê N1 xây dựng theo Bản vẽ hiện trạng nhà, đất số 1500 ngày 02/5/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H (tương ứng nhà số (2), (3) và (4)), ông Lê Đ và ông Lê N1 đều tự nguyện tặng cho bà Phạm Thị L nên cần ghi nhận.
Đối với phần diện tích đất tăng thêm so với diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.305.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị L và bà Lê Thị K là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định đối với kỷ phần mà bà được hưởng.
Đối với 02 kỷ phần mà bà L được nhận từ ông Lê Đ và ông Lê N1 thì bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng là (193.315.678đ x 2) x 5% = 19.331.567 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 612, Điều 613, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 và Điều 660 Bộ luật dân sự.
Áp dụng Điều 33, Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình.
Áp dụng Điều 95 và Điều 170 Luật Đất đai.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Xác nhận di sản thừa kế của ông Lê T là ½ giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, diện tích 464m² tọa lạc tại thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ½ giá trị ngôi nhà thờ trên đất. Giá trị di sản mà ông T để lại là 773.262.713 đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Đ, ông Lê N1 và bà Phạm Thị L như sau:
- - Ông Lê Đ và ông Lê N1 mỗi người nhận giá trị kỷ phần thừa kế của mình được hưởng, đồng thời ông Lê Đ và ông Lê Ngọc t kỷ phần thừa kế của mình được hưởng này cho bà Phạm Thị L. Tổng cộng bà Phạm Thị L được nhận thêm 02 kỷ phần thừa kế, tương ứng với giá trị được nhận là 386.631.356 đồng.
- - Ông Lê Đ và ông Lê Ngọc tự n1 tặng cho bà Phạm Thị L ngôi nhà và mái che do ông Lê Đ xây dựng, 02 ngôi nhà và mái che do ông Lê N1 xây dựng (tương ứng nhà số (2), (3) và (4)) theo Bản vẽ hiện trạng nhà, đất kèm theo Bản án.
- Giao cho bà Phạm Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 338, tờ bản đồ số 2, diện tích 464m² và sở hữu toàn bộ tài sản trên đất tọa lạc tại địa chỉ thôn C, xã T, thành phố H (trước đây là thị xã H), tỉnh Thừa Thiên Huế, đã được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 683189 ngày 05/11/2013. Bà Phạm Thị L có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký chỉnh lý biến động đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được chia thừa kế nói trên theo quy định tại Điều 95 và Điều 170 Luật Đất đai.
- Bà Phạm Thị L có trách nhiệm thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cho bà Lê Thị K số tiền là 193.315.678 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.305.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị L, bà Lê Thị K là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định đối với kỷ phần mà bà L, bà K được hưởng.
Bà Phạm Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với 02 kỷ phần mà bà L được nhận từ ông Lê Đ và ông Lê N1 là 19.331.567 đồng.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Hạnh |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 09/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về chia tài sản thừa kế Phạm Thị L và Lê Thị K
