1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI Tỉnh Thái Bình Bản án số: 32/2024/HNGĐ- ST Ngày: 31/5/2024 V/v: “ Tranh chấp hôn nhân và gia đình" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Linh
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bùi Hải Triều.
- Bà Tạ Thị Minh Huệ.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 16/2024/TLST- HNGĐ ngày 27/02/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXX- ST ngày 23/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1990
- Bị đơn: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, Thái Bình.
Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Đội 27, phân trại 01, Trại giam Q, Cục C, Bộ C1.
(Chị H có mặt, anh M vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Thu H trình bày: Chị H và anh M kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 28/12/2012. Sau khi kết hôn, chị H và anh M chung sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau, ngoài ra anh M còn nhiều lần tham gia đánh bạc, vay nợ phải dẫn đến bán tài sản của vợ chồng đi để trả nợ. Hiện tại anh M đang chấp hành án phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Trại giam Q. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải giải quyết cho chị H được ly hôn với anh M.
Về con chung: Chị H và anh M có 02 con chung là Phạm Huy K, sinh ngày 03/7/2014 và Phạm Anh K1, sinh ngày 01/02/2018. Hiện tại 02 con chung đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn chị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chị H không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung cùng chị H.
Về tài sản chung, công nợ: Chị H và anh M không có tài sản chung, không nợ ai và không cho ai vay nợ.
Tại Bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là anh Phạm Văn M trình bày: Anh M và chị H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc không có mâu thuẫn gì, anh M không hiểu lý do vì sao chị H lại ly hôn với anh. Vì vậy, anh M không đồng ý ly hôn với chị H, bởi hai con của anh còn nhỏ, cần có đủ cả bố và mẹ, anh M rất ân hận về việc làm của mình và đang từng ngày phấn đấu cải tạo tốt để trở về với gia đình và xã hội. Do đang chấp hành án tại Trại giam Q nên anh M đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Tại biên bản xác minh ngày 16/4/2024, Ủy ban nhân xã A cung cấp như sau: Chị Đỗ Thị Thu H và anh Phạm Văn M tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 28/12/2012. Sau khi kết hôn chị H và anh M về chung sống tại thôn T, xã A, đến năm 2022 anh M đi chấp hành án tại Trại giam Q về tội “Trộm cắp tài sản”. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh M chính quyền địa phương không nắm được cụ thể nhưng trong quá trình chung sống giữa chị H và anh M nhiều lần mâu thuẫn với nhau. Về việc chị H có đơn xin ly hôn anh M, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị H và anh M có 02 con chung là Phạm Huy K, sinh ngày 03/7/2014 và Phạm Anh K1, sinh ngày 01/02/2018. Hiện tại cả 02 con chung đang sống cùng chị H. Do anh M đang chấp hành án tại Trại giam, để đảm bảo quyền lợi của các con chung chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giao 02 con chung của chị H và anh M cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Chính quyền địa phương không nắm được cụ thể. Chị H và anh M có hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
3
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng được tống đạt đầy đủ, đúng thời hạn cho các đương sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam nhưng đã có lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt.
- Về nội dung vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Đỗ Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Văn M; về con chung: Giao 02 con chung Phạm Huy K, sinh ngày 03/7/2014 và Phạm Anh K1, sinh ngày 01/02/2018 cho chị Đỗ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết; Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn là anh Phạm Văn M có hộ khẩu thường trú tại xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. Theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” giữa chị Đỗ Thị Thu H và anh Phạm Văn M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thu H và anh Phạm Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 28/12/2012. Tại thời điểm kết hôn, chị H và anh M đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và G đình. Đó là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo chị H trình bày, sau khi kết hôn, chị H và anh M chung sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ nhau, ngoài ra anh M còn nhiều lần tham gia đánh bạc, vay nợ phải dẫn đến bán tài sản của vợ chồng đi để trả nợ. Hiện tại anh M đang chấp hành án phạt 10 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Trại giam Q. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn. Bị đơn là anh M xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì và không đồng ý ly hôn với chị H, tuy nhiên anh M cũng không đưa ra được các biện pháp gì để vợ chồng đoàn tụ, mặt khác qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã A cũng xác định trong quá trình chung sống giữa chị H và anh M có nhiều lần mâu thuẫn với nhau. Tại Điều 19 Luật HônG nhân và Gia đình quy định: “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Chị H xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh M và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh M. Như vậy, hôn nhân của chị H và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giải quyết cho chị H được ly hôn với anh M là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2]. Về con chung: Chị H và anh M có 02 con chung là Phạm Huy K, sinh ngày 03/7/2014 và Phạm Anh K1, sinh ngày 01/02/2018 . Hiện tại 02 con chung đang sống cùng chị H. Nguyện vọng của chị H sau khi ly hôn là xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H. Xét thấy, từ khi anh M chấp hành án phạt tù thì cả 02 con chung của chị H và anh M sống cùng chị H, cháu K trên 07 tuổi và có nguyện vọng xin được ở với mẹ, mặt khác anh M đang chấp hành án trong Trại giam không có điều kiện để đảm bảo việc nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Vì vậy, để đảm bảo cho việc sinh hoạt và học tập ổn định của cháu K và cháu K1. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung Phạm Huy K và Phạm Anh K1. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.
[2.3]. Về tài sản chung: Không giải quyết.
[2.4]. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Thu H được ly hôn với anh Phạm Văn M.
- Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung Phạm Huy K, sinh ngày 03/7/2014 và Phạm Anh K1, sinh ngày 01/02/2018. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết, khi nào đương sự có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ việc dân sự khác.
Anh Phạm Văn M có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung và được quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Thu H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên lai thu số 0002578 ngày 27/02/2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/5/2024).
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhân:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |
Bản án số 32/2024/HNGĐ- ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI Tỉnh Thái Bình về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI Tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị Thu H xin ly hôn anh Phạm Văn M
