|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày: 30 - 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Võ
- Bà Phan Phương Huệ
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quang T, sinh ngày 08/4/1990; tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu C, xã P, huyện Đ, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Quang T1, sinh năm 1957 và bà Đinh Thị N, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 19/8/2022 của Đội Cảnh sát giao thông trật tự - Công an huyện Đ đã xử phạt Trần Quang T số tiền 500.000đ về hành vi “Không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ”. Bị cáo chưa nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ. (Có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thu H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2022, khi làm thuê tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang, T quen biết với 01 nam giới tên gọi là Trần Quang C. Trong một lần nói chuyện với C, T nói cho C biết việc bản thân chưa có giấy phép lái xe mô tô, sợ khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ sẽ bị lực lượng Cảnh sát giao thông kiểm tra xử phạt. C nói với T là C biết chỗ làm Giấy phép lái xe giả, không cần đi thi, chỉ cần chụp ảnh chân dung, giấy tờ tuỳ thân và nộp lệ phí 750.000đ là được. Thìn đã cung cấp thông tin cá nhân, lấy điện thoại của C tự chụp ảnh chân dung của mình và nhờ C làm Giấy phép lái xe giả để sử dụng, C đồng ý. Khoảng 01 tháng sau đó, C gặp và đưa cho T 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Quang T, in số [...], ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở giao thông Vận tải tỉnh P. T cầm Giấy phép lái xe này và trả cho C số tiền 750.000đ. Sau khi có được Giấy phép lái xe này, T vẫn mang theo khi điều khiển mô tô tham gia giao thông đường bộ nhưng chưa lần nào bị kiểm tra, xử phạt.
Đến ngày 16/8/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 19E1-156.72 từ nhà đến Km51+700, đường T đoạn thuộc khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ thì bị tổ công tác Đ - Công an huyện Đ dừng phương tiện kiểm tra do vi phạm lỗi không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ. Khi bị yêu cầu xuất trình giấy tờ, T đã xuất trình Giấy phép lái xe trên để tránh bị xử phạt thêm lỗi không có Giấy phép lái xe. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ Giấy phép lái xe của T và làm thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, mức phạt 500.000đ. Sau khi nhận quyết định xử phạt, T không chấp hành nộp phạt để nhận lại Giấy phép lái xe số [...] trên.
Qua xác minh, rà soát để xử lý đối với các giấy phép lái xe bị tạm giữ, đã quá thời hạn nhưng người vi phạm chưa chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, xác định Sở giao thông vận tải tỉnh P không cấp giấy phép lái xe hạng A1 nào có thông tin như trên cho Trần Quang T. Ngày 11/3/2024, Đ - Công an huyện Đ đã ra Quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu cùng Giấy phép lái xe hạng A1 in số [...] mang tên Trần Quang T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Sau khi tiếp nhận, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã triệu tập Trần Quang T đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Ngày 05/4/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định đối với Giấy phép lái xe hạng A1 số [...] mang tên Trần Quang T, in ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở giao thông Vận tải tỉnh P.
Tại Kết luận giám định số 2523/KL-KTHS, ngày 26/4/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
“Giấy phép lái xe số [...] mang tên Trần Quang T cần giám định là giả”.
Xét thấy hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội phạm, ngày 05/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Trần Quang T. Trong quá trình điều tra, bị cáo T vi phạm nghĩa vụ Cấm đi khỏi nơi cư trú nên ngày 10/7/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh bắt bị cáo để tạm giam.
Về vật chứng của vụ án: 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số [...] mang tên Trần Quang T, in ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở Giao thông Vận tải tỉnh P là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của T, Cơ quan điều tra đã chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 34/CT - VKSĐH ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Trần Quang T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử::
Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 341, Điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- - Xử phạt bị cáo Trần Quang T từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 40 ngày bị tạm giam (từ ngày 22/7/2024 đến ngày 30/8/2024), quy đổi thành 120 ngày bằng 04 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo T còn phải chấp hành từ 02 tháng đến 05 tháng cải tạo không giam giữ. Trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa. Giao bị cáo Trần Quang T cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
01 Giấy phép lái xe giả hạng A1, số [...] mang tên Trần Quang T, in ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở Giao thông Vận tải tỉnh P là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của T lưu hồ sơ vụ án.
3.Về án phí: Căn cứ Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Quang T vì thuộc đối tượng hộ nghèo.
Người bào chữa cho bị cáo là bà Bùi Thu H trình bày quan điểm bào chữa: Người bào chữa đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, hành vi phạm tội, loại hình phạt áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Trần Quang T. Bị cáo thuộc hộ nghèo, trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng hình sự: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng tháng 4/2022, do không có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1, sợ bị Cảnh sát giao thông xử phạt khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông đường bộ, Trần Quang T sinh năm 1990 ở khu C, xã P, huyện Đ đã cung cấp thông tin cá nhân của mình cho người khác để làm Giấy phép lái xe mô tô giả hạng A1, in số [...], ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở Giao thông vận tải tỉnh P. Đến ngày 16/8/2022, tại Km51+700, đường T đoạn thuộc khu Đ, thị trấn Đ, huyện Đ, khi bị yêu cầu xuất trình giấy tờ để xử phạt vi phạm hành chính về lỗi không đội mũ bảo hiểm cho người đi xe mô tô, xe máy khi điều khiển xe tham gia giao thông trên đường bộ, T đã xuất trình giấy phép lái xe giả nêu trên cho Đ - Công an huyện Đ để tránh bị xử lý vi phạm về lỗi không có giấy phép lái xe mô tô.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341của Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng đối với bị cáo Trần Quang T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải xử lý trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
[4] Về nhân thân: Bị cáo phạm tội lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội nên cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ với mức khởi điểm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[7]. Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật hình sự, thì trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung công quỹ Nhà nước. Căn cứ kết quả xác minh, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, việc làm và thu nhập không ổn định, thuộc diện hộ nghèo. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.Tuy nhiên, kết quả xác minh của Cơ quan điều tra và lời trình bày tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do không có tài sản riêng, thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Giấy phép lái xe giả hạng A1, số [...] mang tên Trần Quang T, in ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở Giao thông Vận tải tỉnh P là tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của T cần lưu hồ sơ vụ án.
[9] Đối với người nam giới tên Trần Quang C mà T khai đã giúp T làm Giấy phép lái xe giả, T khai chỉ nghe người này nói sinh năm 1957, nhà ở khu vực xã Đ, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. T đã nghỉ làm thuê ở đây từ lâu, không có phương thức nào liên lạc với C, nghe nói C đã chết từ năm 2023. T không biết người này làm giấy phép lái xe giả ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh tại Công an xã Đ nhưng kết quả xác định không có công dân nào như trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[10] Về nguồn gốc chiếc xe mô tô biển số 19E1-156.72 mà T điều khiển khi bị tạm giữ Giấy phép lái xe giả, qua xác minh xác định, chiếc xe trên là tài sản của anh Phùng Ngọc H1 sinh năm 1985 ở khu V, xã P, huyện Đ cho T mượn. Anh H1 không biết việc T chưa được cấp Giấy phép lái xe cũng như sử dụng Giấy phép lái xe giả nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[11] Về án phí: Bị cáo được miễn phí hình sự sơ thẩm vì thuộc đối tượng hộ nghèo
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
- - Xử phạt bị cáo Trần Quang T 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 40 ngày bị tạm giam (từ ngày 22/7/2024 đến ngày 30/8/2024), quy đổi thành 120 ngày bằng 04 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo T còn phải chấp hành 02 (Hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa. Giao bị cáo Trần Quang T cho UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự - Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Lưu hồ sơ vụ án: 01 Giấy phép lái xe giả ghi hạng A1, số [...] mang tên Trần Quang T, in ngày cấp 23/6/2022, nơi cấp Sở Giao thông Vận tải tỉnh P.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Quang T.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Thị Duyên |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức
