Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 32/2024/HS-PT

Ngày 30 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường;
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ;
Ông Nguyễn Khắc Chiên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 tháng 5 năm 2024 và ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/TLPT-HS ngày 27/11/2023 đối với bị cáo Lê Chí C do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2023/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Chí C, sinh ngày 13/01/1965 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Bị cáo là Đảng viên Đ8 (Đã Đình chỉ sinh hoạt đảng); Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn Đ (đã chết); Con bà: Lâm Thị S, sinh năm 1935; Bị cáo có vợ: Đặng Thị T, sinh năm 1970. Bị cáo có 02 con (người con lớn sinh năm 1991, người con nhỏ sinh năm 1993).

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/02/2023 đến ngày 08/5/2023, thay đổi biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh, đang cư trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ - Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Chí C: Bà Lỗ Thị Thu H - Luật sư Công ty L3, thuộc đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ số A, đại lộ H, phường G, thành Phố V, tỉnh Phú Thọ; Có mặt.

Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị:

  1. Lê Xuân C1, sinh ngày 18/01/1945; Nơi cư trú: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: không; Chức vụ, đảng phái: Hội viên hội người cao tuổi xã L; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn T1 (đã chết); Con bà Nguyễn Thị H1 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1949; Bị cáo có 06 con (người con lớn nhất sinh năm 1968, người con nhỏ nhất sinh năm 1982).
  2. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. C, sinh ngày 19/8/1964; Nơi cư trú: Khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; Chức vụ, đảng phái: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cù Tất Đ1, sinh năm 1937; Con bà Lê Thị S1, sinh năm 1942; Bị cáo có vợ: Lê Thị Minh H2, sinh năm 1965. Bị cáo có 03 con (người con lớn nhất sinh năm 1988, người con nhỏ nhất sinh năm 1993)
  4. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

    Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được tại ngoại tại khu C, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo và không bị kháng nghị:

  • - Ông Nguyễn Hồng V, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Xuân Đ2, sinh năm 1958 Địa chỉ: Phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Quang V1, sinh năm 1962 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Anh Lê Văn T3, sinh năm 1989 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Thanh H3, sinh năm 1975 Địa chỉ: Tổ C, khu L, phường G, thành phố V, Phú Thọ
  • - Ông Lê Hữu N, sinh năm 1977 Địa chỉ: Tổ E, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ Chỗ ở hiện tại: SN 2122, Đại lộ H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Xuân T4, sinh năm 1970 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Anh Nguyễn Anh P, sinh năm 1988 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị T5, sinh năm 1956 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Xuân P1, sinh năm 1955 Địa chỉ: Số nhà F, ngõ H, phố Q, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1956 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị D, sinh năm 1945. Địa chỉ: Tổ B, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ Nơi ở hiện nay: SN 319, chung cư B, khu F, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Ngọc G, sinh năm 1969 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Văn Q, sinh năm 1971 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Nguyễn Đắc P2, sinh năm 1970 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị T6, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Nguyễn Hồng M, sinh năm 1939 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Đặng Văn B, sinh năm 1956 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Anh Đào Văn S2, sinh năm 1983 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị H4, sinh năm 1947 Địa chỉ: Tổ B, phố H, phường B, thành phố V, Phú Thọ
  • - Ông Đặng Văn V2, sinh năm 1970 Địa chỉ Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Văn C2, sinh năm 1959 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị T7, sinh năm 1976 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Văn H5, sinh năm 1965 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Xuân B1, sinh năm 1960 Địa chỉ: xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị H6, sinh năm 1961 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1951 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Đặng Phúc H7, sinh năm 1961 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Vũ Văn Đ3, sinh năm 1949 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Đặng Thị L, sinh năm 1966 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Lê Thị L1, sinh năm 1942 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Thiết H8, sinh năm 1961 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Văn C3, sinh năm 1972 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Đặng Quốc T8, sinh năm 1979 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Chị Lê Thị Ngọc L2, sinh năm 1985 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Nguyễn Thị S3, sinh năm 1959. Địa chỉ: Khu B, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Đình Đ4, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tập thể công ty T21, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.
  • - Bà Trần Thị Thanh N2, sinh năm 1962 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Anh T9, sinh năm 1961 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Vũ Văn H9, sinh năm 1980 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Đình Q1, sinh năm 1961 Địa chỉ: Tổ D, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Đăng K, sinh năm 1973 Địa chỉ: Số A, ngách A, ngõ A M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội
  • - Bà Lê Thị V3, sinh năm 1953 và anh Lê Duy H10, sinh năm 1984 Đều có địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Ngọc T10, sinh năm 1958 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Công B2, sinh năm 1954 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Hà Thị T11, sinh năm 1947 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Văn G1, sinh năm 1978 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Chị Phạm Thị T12, sinh năm 1989 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Nguyễn Chí S4, sinh năm 1957 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Duy N3, sinh năm 1958 Địa chỉ: C số B G, phường C, quận Đ, Hà Nội
  • - Ông Đặng Xuân H11, sinh năm 1979 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1965 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Văn C4, sinh năm 1945 Địa chỉ:, Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Quốc T13, sinh năm 1964 Địa chỉ: khu B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Phạm Thị T14, sinh năm 1968 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Văn B3, sinh năm 1938 Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Anh Đ5, sinh năm 1976 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Công M1, sinh năm 1974 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Lê Xuân H12, sinh năm 1938 Địa chỉ:Xã T, huyện S, thành phố Hà Nội

(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên đều vắng mặt tại phiên tòa)

- Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T15 – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã L- Có mặt.

- Ông Nguyễn Văn T16, sinh năm 1967- Có mặt. Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

- Ông Phạm Minh T17, sinh năm 1963- Có mặt. Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

- Ông Lê Đình M2, sinh năm 1959 – Có mặt. Địa chỉ: Khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Người làm chứng:

  • - Ông Phạm Văn Q2, sinh năm 1957 Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ - Có mặt
  • - Ông Phạm Công T18, sinh năm 1986 - Có mặt Địa chỉ: Khu F, xã L, huyện T, Phú Thọ
  • - Ông Lê Văn C5 - Sinh năm 1949 - Người làm chứng - Có mặt Địa chỉ: Khu F xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Ông Phạm Văn T19 - Sinh năm 1954 - Người làm chứng - Có mặt Địa chỉ: Khu E xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ
  • - Bà Nguyễn Thị N4 - Sinh năm 1986 - Người làm chứng - Có mặt Địa chỉ: Khu C xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

- Điều tra viên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc N5 - Điều tra viên - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ- Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/7/2016, UBND xã L, huyện T ban hành Quyết định số 23/QĐ-UBND về việc giao cho Hội người cao tuổi xã L quản lý các nghĩa trang trên địa bàn xã. Ngày 10/8/2016, UBND xã L ra quyết định số 25A/2016/QĐ-UBND về việc ban hành quy chế quản lý và sử dụng nghĩa trang. Chi hội người cao tuổi khu 15 (nay là khu E, xã L) giao cho Lê Xuân C1 – sinh năm 1945, địa chỉ khu E xã L là chi hội trưởng Hội người cao tuổi quản lý nghĩa trang I, thuộc khu F, xã L. Nhiệm vụ của C1 hướng dẫn các tổ chức, cá nhân và nhân dân sử dụng nghĩa trang trên cơ sở quy chế dân chủ. Lê Chí C, sinh năm 1965 là công chức địa chính xã L. Nhiệm vụ của C tham mưu giúp UBND xã L quản lý đất đai trên địa bàn, kiêm Trưởng ban khánh tiết Đình đền M3, xã L. C đã cùng bàn bạc với Lê Xuân C1 đồng thời cũng là kế toán Ban khánh tiết di tích đình đền M3 cùng Phạm Văn Đ6 sinh năm 1948, trú tại khu F, xã L (đã chết năm 2021) lúc đó là thủ quỹ Ban khánh tiết đình đền M3; bàn bạc chia ô phần đất trồng lúa khác, đất màu và đất bằng chưa sử dụng tiếp giáp nghĩa trang IV thôn Mạo Phổ với tổng diện tích 7.571,9m², chia thành 68 ô giao cho 64 hộ dân sử dụng, có thu tiền trái quy định để lấy tiền xây dựng các công trình trong nghĩa trang và đình đền M3, xã L. Kết quả đã thu của 53 hộ dân số tiền 791.600.000đ; còn 10 hộ dân khác được giao đất do đã tự nguyện xây dựng các công trình trong nghĩa trang và đình đền M4 phổ. Trong tất cả số hộ dân mua đất C, C1 và Đ6 không viết phiếu thu, không viết giấy biên nhận gì; chỉ có một số hộ được viết cho 01 Phiếu ghi nhận công đức.

Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành xác định hiện trường tại nghĩa trang I, khám xét thu giữ một số tài liệu có liên quan đến việc thu – chi tiền của Ban khánh tiết di tích đình đền M4 phổ, điều tra xác minh theo quy định.

Quá trình điều tra xác định: Lê Chí C trực tiếp thu tiền của 15 hộ dân với số tiền 325.500.000đ; gồm:

  1. Ông Nguyễn Hồng V, sinh năm 1956, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
  2. Ông Lê Xuân Đ2, sinh năm 1958, thường trú tại: Phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
  3. Ông Lê Quang V1, sinh năm 1962, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp tổng số tiền: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
  4. Ông Lê Văn T3, sinh năm 1989, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp tổng số tiền: 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Trong đó, nộp số tiền: 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) cho Lê Chí C và nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho ông Phạm Văn Đ6.
  5. Ông Lê Thanh H3, sinh năm 1975, thường trú tại: Tổ C, khu L, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng).
  6. Ông Lê Hữu N, sinh năm 1977, trú tại tổ E, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền 40.000.000₫ (bốn mươi triệu đồng).
  7. Ông Lê Xuân T4, sinh năm 1970, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  8. Ông Nguyễn Anh P, sinh năm 1988, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  9. Bà Lê Thị T5, sinh năm 1956, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  10. Ông Lê Xuân P1, sinh năm 1955, thường trú tại: Số nhà F, ngõ H, phố Q, phường Â, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
  11. Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1956, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  12. Bà Lê Thị D, sinh năm 1945, thường trú tại: Tổ B, phố T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 15.000.000₫ (mười lăm triệu đồng).
  13. Ông Phạm Ngọc G, sinh năm 1969, trú tại khu F, xã L, T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 34.000.000₫ (ba mươi tư triệu đồng) nộp tiền cho ông Đặng Văn B, sinh năm 1956, thường trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ là người thi công xây dựng cổng chính, cổng phụ nghĩa trang thôn M theo yêu cầu của ông Lê Chí C.
  14. Ông Lê Văn Q, sinh năm 1971, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp tiền cho ông Đặng Văn B là người thi công xây dựng cổng chính, cổng phụ nghĩa trangthôn Mạo Phổ theo yêu cầu của ông Lê Chí C.
  15. Ông Nguyễn Đắc P2, sinh năm 1970, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ khấu trừ tiến công làm cửa ra vào của đình đền M4 Phô trịgiá: 31.500.000đ (ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, ban đầu Lê Chí C không thừa nhận việc bàn bạc, chỉ đạo giao đất trồng lúa khác, đất trồng màu, đất bằng chưa sử dụng do UBND xã L quản lý cho các hộ dân sử dụng làm đất nghĩa trang; không thừa nhận đã được phân công giữ chức vụ Trưởng Ban khánh tiết di tích lịch sử định đền M3. Sau đó bị cáo Lê Chí C chỉ thừa nhận việc thu tiền của 08 hộ dân, mục đích giao đất cho các hộ dân lấy tiền xây dựng, tu sửa nghĩa trang và đình đền M3, với số tiền 170.000.000đ. Còn 07 hộ dân khác C không thừa nhận đã thu tiền. Nhưng căn cứ vào lời khai lời khai của Lê Xuân C1, lời khai của các hộ dân nộp tiền cho C, có một số hộ dân nộp tiền cho C1 và Đ6 mua đất làm nghĩa trang trình bày, C là người quyết định việc bán đất, thu nộp tiền, cắm đất trên thực địa; lời khai của những người có liên quan là ông Phạm Văn Q2 (bảo vệ nghĩa trang), ông Đặng Văn B – SN 1956, ở khu F, xã L (người thi công cổng nghĩa trang); anh Phạm Công T18 – SN 1986, ở khu F, xã L (người cung cấp sơn và thuê người sơn cổng nghĩa trang) trình bày C là người chỉ đạo bán, cắm đất cho các hộ dân; các tài liệu thu giữ được thể hiện tại các biên bản làm việc của Ban khánh tiết đình đền M3, C đều ký xác nhận với tư cách là Trưởng ban và kết quả xác định hiện trường đủ căn cứ kết luận Lê Chí C đã bàn bạc, chỉ đạo việc bán đất nông nghiệp làm nghĩa trang, đồng thời Lê Chí C là Trưởng Ban khánh tiết đình đền M3. Số tiền thu được C đã chỉ đạo chi tiêu như sau:

  1. Đưa ông Phạm Văn Đ6, Thủ quỹ của Ban khánh tiết di tích đình, đền M3 số tiền 15.000.000đ để nhập vào quỹ của Ban khánh tiết di tích đình, đền M5.
  2. Thuê ông Đặng Văn B, sinh năm 1956, thường trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ là người thi công xây dựng cổng chính, cổng phụ nghĩa trang và bờ tường kè đường bê tông từ cổng chính nghĩa trang đi vào theo thiết kế của Lê Chí C hết tổng số tiền: 80.000.000₫.
  3. Chi mua 09 (chín) cây vạn tuế hết 20.000.000đ trồng thành hàng ở lề đường bê tông phía bên trái theo hướng từ cổng chính nghĩa trang đi vào nghĩa trang.
  4. Khấu trừ tiền công làm cửa ra vào đình đền M3 của ông Nguyễn Đắc P2, sinh năm 1970, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ trị giá: 31.500.000₫.Ngoài ra, trước Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Chí C còn khai báo về việc chi sốtiền đã thu như sau:
    • Vào khoảng năm 2016 hoặc năm 2017, Lê Chí C đưa ông Phạm Văn Đ6 số tiền: 20.000.000₫ để trả chi phí xây dựng công trình tại đình đền M3. Tuynhiên, Lê Chí C không biết làm công trình gì.
    • Khoảng năm 2018, Lê Chí Có đã đưa cho ông Phạm Văn Đ6 số tiền 10.000.000đ để công đức vào chùa M6 thuộc thôn D, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội.
    • Khoảng năm 2018, Lê Chí C đưa ông Phạm Văn Đ6 số tiền: 20.000.000₫ để trả tiền công quay phim quảng bá về di tích đỉnh đền M3.

Theo số liệu ghi chép, theo dõi tại quyển sổ “Giáo án” của Lê Xuân C1 giao nộp, không có các khoản chi của Lê Chí C đưa cho Phạm Văn Đ6 số tiền 50.000.000₫ năm 2016 – 2018 như đã nêu trên. Vì vậy, việc bị cáo Lê Chí C trình bày chi các khoản tiền trên là không có căn cứ. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được xác định: Số tiền thu được Lê Chí C đã chi tiêu xây dựng nghĩa trang và đình đền M4 Phổ hết 146.500.000đ. Số tiền còn lại 179.000.000₫, Công trình bày đưa cho Phạm Văn Đ6 và chi các khoản khác nhưng không có tài liệu chứngminh.

Bị cáo Lê Xuân C1 thu tiền của 08 hộ dân với số tiền 97.000.000đ; gồm:

  1. Bà Lê Thị T6, sinh năm 1977, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 13.000.000₫ (mười ba triệu đồng).
  2. Ông Nguyễn Hồng M, sinh năm 1939, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
  3. Ông Đặng Văn B, sinh năm 1956, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  4. Ông Đào Văn S2, sinh năm 1983, trú tại khu khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  5. Bà Lê Thị H4, sinh năm 1947, trú tại tổ B, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng).
  6. Ông Đặng Văn V2, sinh năm 1970, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  7. Ông Phạm Văn C2, sinh năm 1959, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  8. Bà Lê Thị T7, sinh năm 1976, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Số tiền thu được, Lê Xuân C1 đã đưa ông Phạm Văn Đ6 để nhập vào quỹ của Ban khánh tiết di tích lịch sử Đình đền Mạo Phổ 77.000.000₫. Số tiền còn lại 20.000.000₫ thu của ông Nguyễn Hồng M, theo sự chỉ đạo miệng của Lê Chí C, Lê Xuân C1 đã thanh toán cho ông Phạm Văn Q2 để thi công làm mương thoát nước bằng bê tông giữa nghĩa trang cũ, mới thôn M.

Có 22 hộ dân trình bày nộp tiền cho Phạm Văn Đ6 với số tiền 287.100.000đ; gồm:

  1. Ông Phạm Văn H5, sinh năm 1965, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).
  2. Ông Lê Xuân B1, sinh năm 1960, nguyên quán: Xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
  3. Bà Lê Thị H6, sinh năm 1961, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  4. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1951, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  5. Ông Phạm Minh T17, sinh năm 1963, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000₫ (mười triệu đồng).
  6. Ông Đặng Phúc H7, sinh năm 1961, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  7. Bà Phạm Thị T14, sinh năm 1968. Trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng)
  8. Ông Vũ Văn Đ3, sinh năm 1949, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  9. Bà Đặng Thị L, sinh năm 1966, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000₫ (mười triệu đồng).
  10. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1942, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 14.500.000đ (mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
  11. Ông Lê Thiết H8, sinh năm 1961, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
  12. Ông Lê Văn C3, sinh năm 1972, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
  13. Ông Đặng Quốc T8, sinh năm 1979, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 5.000.000₫ (năm triệu đồng).
  14. Bà Lê Thị Ngọc L2, sinh năm 1985, trú khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  15. Bà Nguyễn Thị S3, sinh năm 1959, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ và ông Phạm Đình Đ4, sinh năm 1954, trú tại tập thể Công ty T21, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội nộp tổng số tiền: 15.000.000₫ (mười lăm triệu đồng).
  16. Bà Trần Thị Thanh N2, sinh năm 1962, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  17. Ông Phạm Anh T9, sinh năm 1961, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  18. Ông Vũ Văn H9, sinh năm 1980, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiến: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  19. Ông Lê Đình Q1, sinh năm 1961, trú tại tổ D, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 39.600.000đ (ba mươi chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
  20. Ông Lê Đăng K, sinh năm 1973, trú tại số A, ngách A, ngõ A M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  21. Bà Lê Thị V3, sinh năm 1953 và ông Lê Duy H10, sinh năm 1984 (con trai bà V3), trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000₫ (mười triệu đồng).
  22. Ông Lê Ngọc T10, sinh năm 1958, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Có 02 hộ dân nộp tiền vào quỹ ủng hộ xây dựng chùa K1 thuộc khu F, xã L để được giao đất gồm:

  1. Ông Phạm Công B2, sinh năm 1954, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
  2. Bà Hà Thị T11, sinh năm 1947, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).

Có 02 hộ dân nộp tiền nhưng không xác định được người thu tiền gồm:

  1. Ông Lê Văn G1, sinh năm 1978, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng).
  2. Bà Phạm Thị T12, sinh năm 1989, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Ngoài ra, ông Phạm Văn B3, sinh năm 1938, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ nộp số tiền: 5.000.000₫ (năm triệu đồng) cho ông Phạm Văn Đ6 để được giao đất nghĩa trang sử dụng. Tuy nhiên, đến nay, ông Phạm Văn B3 chưa được giao đất nghĩa trang sử dụng.

Những hộ dân xây dựng công trình trong khuân viên nghĩa trang thuộc khu F, xã L đã được giao đất sử dụng làm nghĩa trang gồm:

  1. Ông Lê Đình M2, sinh năm 1959, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm tuyến đường bê tông thứ nhất từ cổng chính đi vào, chạy ngang nghĩa trang.
  2. Ông Nguyễn Chí S4, sinh năm 1957, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ xây dựng nhà tang lễ (miếu T22).
  3. Ông Lê Duy N3, sinh năm 1958, trú tại C4A2 số 2, G, phường C, quận Đ, thành phố Hà Nội cùng ông Nguyễn Chí S4 xây dựng nhà tang lễ (miếu T22).
  4. Ông Đặng Xuân H11, sinh năm 1979, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm tuyến đường bê tông giáp giữa nghĩa trang với xã T, thị xã P (phía bên phải từ cổng chính nghĩa trang đi vào).
  5. Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1965, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm tuyên đường bê tông giáp giữa nghĩa trang với xã T, thị xã P (phía bên trái tử công chính nghĩa trang đi vào).
  6. Ông Nguyễn Văn T16, sinh năm 1967, trú tại khu E, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm đoạn mương xây thoát nước phía gần nhà tang
  7. Ông Phạm Kim N6, sinh năm 1935, nguyên quán: Xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm tuyến đường bê tổng ngang nghĩa trang qua nhàtang lễ.
  8. Ông Lê Quốc T13, sinh năm 1964, trú tại khu B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ thi công làm nhà tang lễ cũ (miếu T22).
  9. Ông Đặng N7, sinh năm 1940, (đã chết). Địa chỉ: Xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm tuyến đường bê tông từ cổng phụ nghĩa trang đi vào.
  10. Ông Đặng Văn V2, sinh năm 1970, trú tại khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ thi công làm tuyến đường bê tông thứ hai từ cổng chính nghĩa trang đi vào, chạy ngang nghĩa trang.

Số tiền Lê Xuân C1 và Phạm Văn Đ6 thu của các hộ dân được giao đất nông nghiệp sử dụng làm đất nghĩa trang được nộp về quỹ của Ban khánh tiết di tích lịch sử đình đền M3, xã L. Số tiền này đã được chi như sau:

  1. Xây dựng tường rào tiếp giáp giữa đê tả thao và đình đền M4 Phổ năm 2016 hết số tiền: 11.740.000đ (mười một triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
  2. Đổ bê tông từ tường rào tiếp giáp giữa đê tả thao và đình đền M3 đến đường nhựa đê tả thao thuộc đình đền M4 Phổ năm 2016 hết số tiền: 18.700.000₫ (mười tám triệu bảy trăm nghìn đồng).
  3. Đổ bê tông từ đê tả thao vào sân đình đền M4 Phổ năm 2016 hết số tiền: 2.495.000đ (hai triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
  4. Lát gạch đỏ sân đình Mạo Phổ năm 2016 hết số tiền: 14.700.000đ (mười bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).
  5. Đảo ngói đình Mạo P3 năm 2016 hết tổng số tiền: 60.576.000₫ (sáu mươi triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
  6. Thuê dỡ công trình sân khấu trong đình M và xây, lát lại nền đình Mạo Phổ năm 2017 hết tổng số tiền: 12.970.000đ (mười hai triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
  7. Chi mua 01 (một) chuồng cửa lớn và 02 (hai) chuồng của ngách (cửa đầu đốc) đều bằng gỗ để lắp cửa ra vào của đình Mạo P3 năm 2017 hết tổng số tiền: 58.000.000₫ (năm mươi tám triệu đồng).
  8. Chi mua 02 (hai) cửa lách vào hậu cung của đình Mạo P3 năm 2018 hết tổng số tiền: 5.820.000₫ (năm triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).
  9. Chi mua nguyên vật liệu và công thuê lát lại đại bái đình Mạo Phổ năm 2018 hết tổng số tiền: 8.700.000₫ (tám triệu bảy trăm nghìn đồng).
  10. Chi chuyển và làm sân khấu đình Mạo Phổ năm 2018 (chuyển sân khấu từ trước cửa chùa M7 về trước cửa miếu Đ9) hết tổng số tiền: 195.963.000đ (một trăm chín mươi lăm triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Như vậy, tổng số tiền đã chi xây dựng các công trình trên là: 389.664.000đ. Số tiền còn lại đã được nhập quỹ của Ban khánh tiết di tích lịch sử đình đền M3 để phục vụ các hoạt động của Ban khánh tiết. Tuy nhiên, việc Ban khánh tiết di tích lịch sử đình đền M3 hợp đồng thi công các công trình trên với người thi công đều bằng miệng, không có văn bản. Ban khánh tiết di tích lịch sử đình đền M3 không mở sổ quỹ tiền mặt để theo dõi, quản lý hoạt động tài chính của Ban khánh tiết.

Trước Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Xuân C1 khai nhận: Để xây dựng uy tín của bản thân trong khi Lê Xuân C1 được giao quản lý nghĩa trang I, xã L. Từ năm 2016 đến năm 2018, Lê Chí C là Trưởng Ban khánh tiết di tích đình đền M3 thuộc khu F, xã L đã bàn bạc với Lê Xuân C1 và Phạm Văn Đ6 tiến hành giao đất nghĩa trang cho các hộ dân sử dụng mai táng, cát táng có thu tiền để có kinh phí xây dựng, tu bổ các công trình trong khuân viên nghĩa trang, di tích lịch sử đình đền M3 và phục vụ cho các hoạt động của Ban khánh tiết di tích đình đền M3. Lê Chí C là người quyết định việc giao đất nghĩa trang cho hộ dân sử dụng. Quá trình giao đất nghĩa trang trên thực địa, Lê Chí C là người trực tiếp chỉ đạo Lê Xuân C1 và ông Phạm Văn Q2, sinh năm 1957, trú tại khu F, xã L, (là người bảo vệ nghĩa trang) đo, giao đất cho các hộ dân sử dụng làm đất mai táng, cát táng. Việc chi tiền để xây dựng, tu bổ các công trình trong khuân viên nghĩa trang và di tích lịch sử đình đền M3 do Lê Chí C quyết định. Qua việc làm trên, Lê Xuân C1 và ông Phạm Văn Q2 đã tự chiếm, sử dụng 01 (một) ô đất có diện tích 51m² tại khu vực trên để sử dụng làm nghĩa trang của gia đình.

Ngày 29/4/2022 Cơ quan điều tra Công an huyện T xác định hiện trường thấy: Toàn bộ phần đất bán cho các hộ dân đều thuộc quỹ đất trồng màu, đất trồng lúa khác và đất bằng chưa sử dụng. Việc bán đất của Lê Chí C, Lê Xuân C1 và Phạm Văn Đ6 đã vượt quá thẩm quyền vi phạm khoản 2 Điều 7; khoản 1 Điều 57; điểm a khoản 1 Điều 59; Điều 162 Luật Đất đai năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) xác định: Thẩm quyền chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất trồng lúa khác, đất màu và đất bằng chưa sử dụng sang đất nghĩa trang là thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh. Hành vi của Lê Chí C, Lê Xuân C1 và Phạm Văn Đ6 đã gây hậu quả thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhà nước, trực tiếp là UBND xã L mất đi quyền quản lý, sử dụng hợp pháp diện tích 7.571,9m² đất nông nghiệp thuộc khu F, xã L.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu định giá diện tích đất nông nghiệp bị bán làm đất nghĩa trang nêu trên. Tại Kết luận định giá tài sản số 42 ngày 05/9/2022 của Hội động định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định trị giá diện tích đất 7.571,9m² tại thời điểm năm 2016 – 2018 là 269.610.572 đ (Hai trăm sáu mươi chín triệu sáu trăm mười nghìn năm trăm bảy mươi hai đồng).

Các hộ dân được giao đất nghĩa trang trình bày: Khi thấy Ban I, xã L có chủ trương bán đất nghĩa trang; mỗi ô đất có diện tích trung bình khoảng 50 - 100m, giá mỗi ô từ 10.000.000 đến 40.000.000đ tuỳ thuộcvào vị trí ô đất. Các hộ dân đều không thuộc diện được cấp đất hoặc không có hồ sơ xin cấp đất, mà đã tự nguyện nộp tiền cho Ban I để lấy đất làm nghĩa trang cho gia đình. Trong số các hộ mua đất có người nộp tiền trực tiếp cho Lê Chí C, có người nộp cho Lê Xuân C1, có người nộp cho Phạm Văn Đ6; tất cả các hộ nộp tiền đều không được viết phiếu thu hoặc giấy tờ biên nhận gì; chỉ có một số hộ được viết cho 01 phiếu ghi nhận công đức của Ban Q3 đền M3.

Trong thời gian bị cáo Lê Chí C và đồng phạm bán đất nông nghiệp cho các hộ dân làm nghĩa trang, bị cáo Cù Tất T20 - sinh năm 1964, trú tại khu C, xã L là Chủ tịch UBND xã L trong giai đoạn năm 2010-2020. Bản thân Cù Tất T20 có trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng đất đai. Tuy nhiên, hàng năm từ năm 2016 - 2018, Cù Tất T20 vẫn ký các báo cáo hàng tháng về công tác tài nguyên và môi trường của UBND xã L gửi UBND huyện T thể hiện UBND xã L không có biến động gì về đất đai, không có vi phạm về lĩnh vực đất đai xảy ra tại trên địa bàn. Cù Tất T20 không làm đúng chức trách, nhiệm vụ được giao trong công tác quản lý, sử dụng đất đai do UBND xã L quản lý; không tiến hành thống kê, kiểm tra đất đai theo quy định của pháp luật. Từ đó không phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật của Lê Chí C và đồng phạm trong việc giao đất nông nghiệp (đất trồng lúa khác, đất trồng màu, đất bằn chưa sử dụng) do UBND xã quản lý cho các hộ dân sử dụng làm nghĩa trang từ năm 2016 đến năm 2018 thu tổng số tiền là: 791.600.000đ. Hành vi thiếu trách nhiệm của Cù Tất T20 đã gây ra hậu quả thiệt hại cho nhà nước mất quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 7.571,9m² trị giá là 269.610.572₫.

Tại Cơ quan điều tra, Cù Tất T20 đã khai nhận: Bản thân thiếu trách nhiệm trong việc quản lý khu vực đất trồng lúa khác, đất trồng màu, đất bằng chưa sử dụng do UBND xã L quản lý tại khu F, xã L và không tiến hành kiểm tra trên thực địa việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật, dẫn đến việc Lê Chí C và đồng phạm đã giao khu vực đất trên cho người dân sử dụng làm nghĩa trang trái với quy định của Luật Đất đai. Tuy nhiên, Cù Tất T20 không tham gia, không chỉ đạo gì, không được hưởng lợi ích, vật chất hoặc tinh thần gì.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:

Căn cứ Điểm c Khoản 2 điều 357; Điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Chí C

Căn cứ Điểm c Khoản 2 điều 357; Điểm o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Xuân C1;

Căn cứ Điểm d Khoản 1 điều 360;Điểm s, vkhoản 1, Khoản 2Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cù Tất T20

Căn cứ khoản 2 điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 586, 587, 589; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điểm a, b Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điểm a khoản 1 Điều 23Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

[2] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Lê Chí C, Lê Xuân C1 phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”; Bị cáo Cù Tất T20 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Xử phạt bị cáo Lê Chí C 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 23/02/2023 đến ngày 08/5/2023.

Xử phạt bị cáo Lê Xuân C1 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Cù Tất T20 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lê Xuân C1, Cù Tất T20 cho UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp các bị cáo Lê Xuân C1, Cù Tất T20 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

[3.1]. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Lê Chí C bồi thường cho những người sau:

  • - Ông Vũ Văn H9: 10.000.000₫ (Mười triệu đồng chẵn);
  • - Ông Lê Ngọc T10 10.000.000đ (Mười triệu đồng chẵn);
  • - Ông Phạm Đình Đỗ 1 (Mười lăm triệu đồng chẵn);
  • - Ông Lê Đăng K: 10.000.000đ (Mười triệu đồng chẵn);
  • - Anh Lê Duy H10 (mẹ là bà Lê Thị V3): 10.000.00₫ (mười triệu đồng chẵn);
  • - Bà Đặng Thị N1 10.000.000đ (mười triệu đồng chẵn);
  • - Ông Lê Xuân Đ2 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng chẵn);
  • - Ông Lê Văn Q 10.000.000₫ (Mười triệu đồng chẵn);
  • - Ông Nguyễn Anh P 10.000.000₫ (Mười triệu đồng chẵn).

Tổng số tiền bị cáo C phải có nghĩa vụ bồi thường là 105.000.000đ (Một trăm linh năm triệu đồng chẵn). Xác nhận bị cáo Lê Chí C đã tạm nộp số tiền 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng chẵn) để khắc phục hậu quả.

Buộc bị cáo Lê Xuân C1 phải có nghĩa vụ bồi thường cho ông Đặng Văn B số tiền là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng chẵn).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông B có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo C1 không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành án xong.

Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên đương sự nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

[3.2] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu số tiền còn lại bị cáo C đã tạm nộp là 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng chẵn) để sung quỹ nhà nước.

(Số tiền bị cáo C tạm nộp thể hiện tại biên lai thu tiền số AA/2020/0002773 ngày 14/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ).

Thu hồi để tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 59.000.000đ (Năm mươi chín triệu đồng chẵn) của bị cáo Lê Chí C do phạm tội mà có.

Tịch thu 01 quyển giáo án gồm 64 tờ giấy kẻ ngang, trong đó có 24 tờ có ghi nhiều chữ và số tự nhiên bằng mực đỏ, xanh, đen để lưu hồ sơ vụ án.

Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, bị cáo Lê Chí C kháng cáo có nội dung:

  • - Bị cáo C cho rằng bị cáo không phạm tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ vì bị cáo không phải là cán bộ địa chính được giao nhiệm vụ về đất đai.
  • - Bị cáo C xác định 1.399m² đất do các hộ dân tự ý xây mộ trên đất trước năm 2016 không liên quan đến bị cáo.
  • - 1.396,65 m² là đất chưa sử dụng (Vẫn đang sử dụng với mục đích nông nghiệp).
  • - Chỉ có 5.208,70 m²đất bị chuyển mục đích sang đất nghĩa trang giai đoạn 2016-2018.
  • - Về chủ sử dụng đất bị cáo C xác định 7.571,9 m² vẫn là đất do người dân đang sử dụng nên nếu bị cáo có gây thiệt hại thì là thiệt hại của người dân chứ không phải thiệt hại đối với nhà nước.
  • - Bị cáo C xác định bị cáo không phải là Trưởng ban khánh tiết Đ7 – Đền M3 vì Đ7 - Đền M3 là di tích cấp Quốc gia; Năm 2020 bị cáo có ký biên bản làm việc với tư cách là trưởng ban, liên quan đến việc bàn giao tiền do Ngân hàng C9 tài trợ chứ ông không phải trưởng ban khánh tiết chính thức.
  • - Bị cáo xác định quyết định số 25A/2016/QĐ-UBND ngày 10/8/2016 về quản lý và sử dụng nghĩa trang, bị cáo C cho rằng quy chế này không được ban hành vào thời điểm năm 2016.
  • - Tòa án cấp sơ thẩm không cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với nội dung bị cáo là người có công là không đúng, cụ thể bị cáo được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công nhưng bị mất chưa được cấp đổi lại nên không có để nộp cho Tòa án nhưng bị cáo có tài liệu khác như (Lý lịch đảng viên có ghi) để chứng minh về việc bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến công là thật.
  • - Về bồi thường bị cáo C xác định chỉ thu tiền của 8 người là 170.000.000₫, bị cáo đã chi tiêu hết cho việc xây dựng nghĩa trang và Đ7 - Đền M3 nhưng chỉ được công nhận 146.500.000đ là không đúng; Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo thu tiền của 7 người khác nữa là không đúng.
  • - Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường cho 9 người với số tiền 105.000.000₫ là không chính xác vì có 05 người (Vũ Văn H9, 10.000.000đ, Lê Ngọc T10 10.000.000đ, Phạm Đình Đỗ 15.000.000đ, Lê Đăng K 10.000.000đ, Lê Duy H10 10.000.000đ) bị cáo không được trực tiếp thu tiền.
  • - Bị cáo C đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo khoản chi 10.000.000₫ công đức vào chùa M6 và thuê quay phim và làm một bài hát với số tiền 20.000.000₫.
  • - Bị cáo công đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đã nêu trên và trình bày bản thân không phạm tội, bị cáo cho rằng bản thân khi đó chỉ là cán bộ địa chính phụ trách về nông nghiệp xây dựng môi trường chứ không được tham mưu quản lý về đất đai.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có kháng cáo trình bày:

Bị cáo Lê Văn C7 trình bày, vì muốn có uy tín nên vào thời điểm năm 2016 đến 2018 bị cáo cùng bị cáo C, ông Đ6 và ông Q2 bàn bạc nhau về việc xã hội hóa bằng cách bán đất nghĩa trang mới để thu tiền dùng vào việc tu bổ nghĩa trang và đền Đ10 Mạo Phổ, cụ thể bị cáo C chỉ đạo và thiết kế, ông Đ6 thủ quỹ thu tiền, ông Q2 và bị cáo đo đất để giao cho các hộ dân, nhưng tất cả do ông C chỉ đạo; Nay bản thân bị cáo đã vi phạm pháp luật và Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba đã xét xử về tội Lạm Quyền trong khi thi hành công vụ, bị cáo nhất trí quyết định bản án và không có ý kiến gì khác.

Bị cáo Cù Tất T20 trình bày bản thân bị cáo đã vi phạm pháp luật và Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba đã xét xử về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, bị cáo nhất trí quyết định bản án và không có ý kiến gì khác.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt trình bày:

  • - Ông Nguyễn Văn T16 xác định được nhận 01 ô đất để làm nghĩa trang do ông Phạm Văn Q2 giao.
  • - Ông Phạm Minh T17 xác định đã nộp số tiền 10.000.000đ cho ông Đ6 để được giao đất nghĩa trang, việc nộp tiền cho ông Đ6 là do ông Q2 hướng dẫn đến nộp tiền cho ông Đ6.
  • - Ông Lê Đình Minh xác đ ông đã làm đường bê tông và được nhận 01 ô đất để làm nghĩa trang, ông biết thông tin về việc giao đất nghĩa trang tại hội nghị người cao tuổi họp tại đình đền M3.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm công bố lời khai tại phiên tòa.

Những người làm chứng trình bày:

  • - Ông Phạm Văn Q2 trình bày bản thân có cùng bị cáo C7, ông Đ6, bị cáo C bàn bạc và cùng bị cáo C7 đo đất cho các hộ như bị cáo C7 bày là đúng nhưng tất cả do bị cáo C chỉ đạo, bản thân được bị cáo C cho một ô đất làm nghĩa trang nhưng nay không sử dụng nữa; Việc đo đất cho các hộ làm nghĩa trang trên đất vi phạm hiện nay, có lần ông đi cùng bị cáo C7, có lần ông đi cùng bị cáo C để đo đất giao cho những người mua đất.
  • - Bà Nguyễn Thị N4 trình bày bản thân được phân công làm cán bộ địa chính từ năm 2016, không biết các bị cáo phân lô đất nông nghiệp để bán cho dân làm nghĩa trang, bản thân bà không tham gia giao đất cho ai ở khu vực nghĩa trang mới và cũng không thu tiền của ai, bà đã cùng ông T15 khi đó là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L đi xác minh đất nghĩa trang và đã giao bằng miệng cho chi hội người cao tuổi quản lý nghĩa trang cũ, không giao nghĩa trang mới, nay nếu ai phân lô bán đất nghĩa trang mới thì người đó phải chịu trách nhiệm và theo theo bản đồ 299 có một số hộ dân có ruộng tại khu nghĩa trang mới, nhưng ruộng đó đã được dồn đổi, sau dồn đổi đất 2013 thì các hộ đã được giao đất nơi khác, nhưng Ủy ban nhân dân xã C10 có hồ sơ đề nghị thu hồi và việc giao đất cũng chưa có hồ sơ giao đất nhưng từ năm 2013 đến nay diện tích đất mà các bị cáo vi phạm thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã L, thuộc loại đất chưa sử dụng.
  • - Ông Lê Văn C5 trình bày ông biết chi hội người cao tuổi được ông T15 khi đó là phó chủ tịch của Ủy ban nhân dân xã L, bà N4 cán bộ địa chính xã L giao bằng miệng cho chi hội người cao tuổi quản lý diện tích nghĩa trang mới, ông T15 nói chỉ được giao cho dân chôn cất người chết chứ không được bán.
  • - Ông Phạm Văn T19 trình bày khoảng năm 2018 ông T15, bà N4 xuống giao cho hội người cao tuổi quản lý nghĩa trang, chăm sóc mồ mả; khi đó ông C7 là chi hội trưởng phụ trách chung, Lãnh đạo địa phương ông T15 có nói không được phân ô để bán đất nghĩa trang, tôi không nhớ cụ thể năm nào nhưng ông Q2 có bảo ông cùng đi đo đất cho dân làm nghĩa trang nhưng ông không làm, việc ông Q2 bảo ông đo đất để giao cho ai ông không nhớ.
  • - Ông Phạm Công T18 trình bày được ông C thuê sơn cổng nghĩa trang 4, ông C đã trả đủ tiền cho ông, ông không biết gì việc mọi người mua bán đất nghĩa trang 4.

Điều tra viên tại phiên tòa trình bày: Cơ quan điều tra đã tiến hành tố tụng, điều tra hành vi phạm tội của các bị cáo theo quy định của Pháp luật, điều tra viên tại phiên tòa đã nêu các căn cứ đã tiến hành điều tra, kết luận điều tra và đề nghị truy tố đối với các bị cáo Lê Chí C, bị cáo Lê Xuân C1 theo điểm c khoản 2 điều 357 Bộ luật Hình sự và bị cáo Cù Tất T20 theo điểm d khoản 1 điều 360 Bộ luật Hình sự .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án.

Thứ nhất, căn cứ kết quả xem xét tại chỗ, xét thấy diện tích đất mà các bị cáo vi phạm chỉ còn là: 5.462,9m², thấp hơn diện tích đất cấp sơ thẩm đã quy kết, diện tích đất vi phạm thuộc hoàn toàn trong 10 thửa đất của 09 hộ dân hiện vẫn đang có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (không có diện tích đất nào thuộc quyền quản lý của UBND xã). Trong hồ sơ vụ án, Cơ quan điều tra không tiến hành lấy lời khai của 09 hộ dân nêu trên, cũng không thu thập các tài liệu chứng minh việc dồn đổi các thửa đất năm 2013 của các hộ dân này, do đó, Bản án sơ thẩm không đưa 09 hộ dân này tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đây là thiếu sót nghiêm trọng trong hồ sơ vụ án. Nếu cấp phúc thẩm đưa họ tham gia tố tụng, giải quyết các nội dung liên quan đến 10 thửa đất này sẽ làm mất đi quyền kháng cáo của 09 hộ dân trên.

Tại Công văn số 1045 của UBND huyện T đã đồng ý cho UBND xã Lương Lỗ mở rộng đất nghĩa trang, tuy nhiên, việc triển khai văn bản này chưa được làm rõ. Đồng thời Bản án sơ thẩm cũng không đưa UBND huyện T tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Thứ hai, bỏ lọt hành vi phạm tội đối với ông Phạm Văn Q2: Hồ sơ vụ án thể hiện, Sau khi các hộ nộp tiền cho bị cáo C thì ông Phạm Văn Q2 (Bảo vệ nghĩa trang) tùy từng mức tiền nộp cụ thể mà người mua nộp cho C để ông Q2 đo và giao đất cho người mua ở vị trí giáp đường bê tông thuận lợi đi lại hay giao đất ở vị trí cách xa đường bê tông, ông Q2 trực tiếp giao đất cho 9 người, ông Q2 được bị cáo C1 chia cho một ô đất (ô số 52) làm nghĩa trang là 1/68 ô đất mà các bị cáo đã phân lô để bán trái phép (Được hưởng lợi – Vụ lợi), ông Q2 khai không được bàn bạc cùng các bị cáo để phân ra 68 ô đất bán cho các gia đình làm đất nghĩa trang mà chỉ làm theo sự phân công của bị cáo C nên Q2 đo đất, giao đất cho những người mua đất. Nhưng khi có người mua đất là (Ông V2) hỏi Q2 để mua đất nghĩa trang thì ông Q2 đã hướng dẫn ông V2 đến nộp tiền cho C, sau khi ông V2 nộp tiền cho C thì Q2 đo đất, giao đất cho ông V2; (BL 1208), tại phiên tòa phúc thẩm ngày 24/5/2024 ông Q2 thừa nhận lời khai của bị cáo C1 có nội dung ông Q2 cùng ông C1, ông C, ông Đ6 bàn bạc bán đất nghĩa trang như bị cáo C1 trình bày.

Ông Q2 và ông C1 được sử dụng 1 ô đất nghĩa trang là do bị cáo C chia cho với mục đích trả công cho ông Q2 và bị cáo C1? Việc Q2 và bị cáo C1 được chia đất là thể hiện vì vụ lợi mà thực hiện hành vi phạm tội (Bị cáo Chính trực tiếp thu tiền bán đất, đo đất, giao đất - bị cáo Q2 trực tiếp hướng dẫn người mua nộp tiền cho C và trực tiếp đo đất, giao đất).

Thứ ba, Bản án sơ thẩm chưa giải quyết về quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích đất vi phạm mà các bị cáo đã giao cho các hộ dân sử dụng vào mục đích đất nghĩa trang (không có quyết định giao đất; không có biên bản giao), các hộ dân có được tiếp tục sử dụng các ô đất đó nữa không?

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy: Cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và có nhiều sai sót trong việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án nêu trên, cả về nội dung và thủ tục tố tụng, tại phiên tòa phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại;

Đề nghị HĐXX:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a,b,c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba để điều tra lại.

Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Lê Chí C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Chí C trình bày quan điểm: Về về yếu tố vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác ông C thực hiện việc thu chi nêu trên vì vụ lợi cá nhân hoặc động cơ cá nhân khác là không chính xác; Về hành vi vượt quá quyền hạn ông C, ông C1, ông Đ6 không phải là những người tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất như Bản án sơ thẩm phán quyết; Về yếu tố thiệt hại bản án sơ thẩm nêu diện tích đất mà các bị cáo vi phạm thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã L là chưa đúng vì theo quy định của Luật đất đai năm 2013, chủ của các thửa đất là các hộ dân, hồ sơ dồn đổi chưa hề được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; Bản thân các hộ dân cũng xác định rằng mình không sử dụng phần diện tích này nên không hề có vấn đề thiệt hại; Về tố tụng hồ sơ của cơ quan điều tra đã có biện bản kiểm tra hiện trạng nhưng khi đưa ra kết luận vẫn cố tình đưa vào những phần diện tích đã bị sử dụng sai mục đích và phần diện tích chưa hề bị sử dụng sai mục đích; Lời khai của những người bị hại có rất nhiều nội dung coppy giống nhau không rõ lý do về nội dung khai đối với vai trò của ông Lê chí C8, sau khi lấy lời khai của một số trường hợp tại phiên tòa, chúng tôi có đủ căn cứ để đặt nghi vấn đối với quá trình điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra; Rất nhiều trường hợp lời khai có mâu thuẫn, tuy nhiên không đối chất theo quy định vì vậy không xác định được chính xác số tiền ông Công nhận từ người dân, đồng thời không làm rõ được vai trò của ông Q2; Trong quá trình điều tra, ông C8 cũng đã có nói đến việc giao đất, tuy nhiên trong hồ sơ của cơ quan điều tra không thể hiện nội dung này. Thực tế cho thấy việc giao đất không chỉ riêng có ông C8 với vai trò địa chính; Mặt khác việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nghĩa trang trái quy định vẫn đang tiếp tục diễn ra; Không làm rõ trong hồ sơ về việc họp bàn của hội người cao tuổi, không làm rõ hồ sơ dồn đổi ruộng đất. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm.

Bị cáo Lê Chí C nhất trí quan điểm của Luật sư bào chữa, bị cáo C đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đối với hành vi của bị cáo theo quy định của pháp luật, để đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của bị cáo.

Các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không kháng cáo, không bị kháng nghị, không có ý kiến gì tham gia tranh luận.

Không ai có ý kiến tranh luận hay đối đáp nào khác.

Các bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo Lê Chí C đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đảm bảo quyền lợi ích chính đáng hợp pháp của bị cáo như Luật sư bào chữa cho bị cáo đã trình bày quan điểm.

Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Lê Chí C nộp trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Bị cáo Lê Chí C là công chức địa chính xã L được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bị cáo C còn kiêm trưởng ban khánh tiết đình đền M4 Phổ xã L; Bị cáo Lê Xuân C1 được giao giữ chức Chi hội trưởng Chi hội người cao tuổi khu 5 xã L, được hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước, bị cáo C1 còn kiêm kế toán Ban khánh tiết đình đền M3 và được giao quản lý nghĩa trang I, thuộc khu F, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Phạm Văn Đ6 được giao giữ chức Thủ quỹ Ban khánh tiết đình đền M3; Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2018, bị cáo C, bị cáo C1 không có thẩm quyền giao đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng vì động cơ vụ lợi và động cơ cá nhân khác mà các bị cáo đã Lạm quyền, làm trái công vụ đó là tự ý bàn bạc, phân chia các thửa đất nông nghiệp với diện tích 7.571,9 m² thành 68 ô đất bán và giao cho 64 hộ dân sinh sống hoặc có quê quán trên địa bàn xã L và có thu tiền; Việc làm đó đã trái quy định của Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05/4/2016 của Chính phủ quy định về xây dựng, quản lý, sử dụng nghĩa trang và cơ sở hỏa táng; vi phạm Luật đất đai; gây ra thiệt hại là 269.610.572₫.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét tại chỗ theo quy định tại điều 314 Bộ luật Tố tụng Hình sự xác định được diện tích đất các bị cáo vi phạm giảm xuống còn 5.462,9 m², trừ đi diện tích 169,9 m² đất tại thửa số 54 không xác định giá trị, còn 5.293,0 m², gây thiệt hại số tiền 184.566.910 đồng.

Đối với Cù Tất T20 là Chủ tịch UBND xã trong giai đoạn năm 2010 - 2020. Bản thân có trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn xã L. Tuy nhiên, Cù Tất T20 không làm đúng chức trách, nhiệm vụ, không phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo, đó là hành vi thiếu trách nhiệm đã gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại như đã nêu trên.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Lê Chí C và Lê Xuân C1 phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật Hình sự, bị cáo Cù Tất T20 phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật Hình sự và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Lê Chí C 30 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Xuân C1 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Cù Tất T20 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo.

Bị cáo Lê Chí C kháng cáo toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ với lý do bị cáo không phạm tội. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và xử phạt hành chính đối với hành vi của bị cáo.

Căn cứ hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội và chưa làm rõ một số vấn đề liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể như sau:

Về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng trong vụ án:

- Cấp sơ thẩm chưa làm rõ diện tích đất mà các bị cáo vi phạm, đã bán cho các hộ dân làm nghĩa trang nêu trên; Cụ thể theo đại diện Ủy ban nhân dân xã L thì diện tích đất đó đã thực hiện dồn đổi cho các hộ dân từ năm 2013, nhưng không có hồ sơ dồn đổi ruộng đất, không có hồ sơ thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi diện tích đất đó của các hộ dân, Ủy ban nhân dân xã L cung cấp Công văn số 1045 ngày 20/10/2017 của Ủy ban nhân dân huyện T nhất trí cho mở rộng nghĩa trang N thôn M xã L nhưng không có hồ sơ quy hoạch chi tiết, mặt khác trong văn bản đó cũng không thể hiện Ủy ban nhân dân huyện T nhất trí cho mở rộng nghĩa trang thôn M đối với diện tích đất nào, ở đâu có phải là diện tích đất mà các bị cáo đã bán cho nhân dân xây mộ hay không;

Diện tích đất các bị cáo vi phạm hiện nay các hộ dân đều đang có giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, họ xuất trình tại cấp phúc thẩm; Theo luật đất đai thì họ vẫn có các quyền quy định tại điều 166.

Do đó cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời trình bày của đại diện Ủy ban nhân dân xã L là đã dồn đổi ruộng đất cho các hộ dân mà xác định diện tích đất trên thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã là chưa phù hợp với quy định của pháp luật (Giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với người sử dụng đất thì việc giao đất, thu hồi đất, dồn đổi ruộng đất phải được thực hiện bằng quyết định hành chính ...).

Như đã phân tích nêu trên thì các hộ dân có đất nằm trong diện tích đất mà các bị cáo đã vi phạm, phải được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, nhưng cấp sơ thẩm không đưa họ tham gia tố tụng trong vụ án là vi phạm thủ tục tố tụng; Thực tế trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm các hộ dân đã nhiều lần gửi đơn đến Tòa án và nhiều lần thay đổi nội dung yêu cầu, khi thì xác định đã được dồn đổi ruộng đất nên không yêu cầu, khi thì xác định diện tích đất mà các bị cáo phân ô đem bán là thuộc quyền sử dụng của họ và nay họ đòi lại quyền sử dụng đất, nếu nhà nước thu hồi để làm nghĩa trang thì phải đền bù cho họ, khi thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận cho họ đối với diện tích đất mới được giao sau khi dồn đổi, nhưng do cấp sơ thẩm không đưa họ tham gia tố tụng để giải quyết quyền lợi của họ, nay nếu đưa họ tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm để xem xét quyền lợi của họ sẽ làm mất đi quyền kháng cáo của họ.

- Cơ quan có thẩm quyền quản lý, cấp và thu hồi đất đối với cá nhân hộ gia đình trong vụ án này là Ủy ban nhân dân huyện T. Ủy ban nhân dân huyện T có văn bản nhất trí cho Ủy ban nhân dân xã L, nhưng cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân huyện T tham gia tố tụng để làm rõ giá trị pháp lý, tính hợp pháp của các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ dân mà Ủy ban nhân dân huyện đã cấp cho họ đến thời điểm mà các bị cáo vi phạm, vì diện tích đất vẫn thể hiện trong giấy chứng nhận của họ; Vì vậy việc làm rõ các hộ dân đã được dồn đổi ruộng đất chưa? Được giao diện tích đất mới sau khi dồn đổi chưa? Nay có yêu cầu gì đối với diện tích đất còn thể hiện trong giấy chứng nhận nữa không, qua đó để xác định đúng và đầy đủ tư cách đương sự tham gia tố tụng.

- Bản án sơ thẩm nhận định hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước mà Ủy ban nhân dân xã L là đại diện nhưng bản án sơ thẩm không nhận định về việc giải quyết quyền lợi của họ.

Về dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội:

Quá trình các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, hồ sơ vụ án thể hiện, Sau khi có người dân nộp tiền cho bị cáo C thì ông Phạm Văn Q2 (Bảo vệ nghĩa trang) tùy từng mức tiền nộp cụ thể mà người mua đã nộp cho C để ông Q2 trực tiếp hoặc ông Q2 cùng bị cáo C1, hoặc cùng bị cáo Công đo và giao đất cho người mua ở vị trí giáp đường bê tông thuận lợi đi lại hay giao đất ở vị trí cách xa đường bê tông; Ông Q2 được bị cáo C chia một ô đất (ô số 52);

Ông V2 khai báo khi ông hỏi ông Q2 để mua đất nghĩa trang thì ông Q2 đã hướng dẫn ông V2 đến nộp tiền cho bị cáo C, sau khi ông V2 nộp tiền cho bị cáo C thì ông Q2 đo đất, giao đất cho ông V2 (Bút lục 1208); Nếu ông Q2 không biết việc các bị cáo bán đất nghĩa trang thì liệu khi ông V2 hỏi mua đất thì ông Q2 có biết trình tự để hướng dẫn ông V2 đến nộp tiền cho bị cáo C và sau đó ông Q2 trực tiếp đo đất, giao đất cho ông V2 tại thực địa không? (Bị cáo Chính trực tiếp thu tiền bán đất, đo đất, giao đất; ông Q2 trực tiếp hướng dẫn người mua nộp tiền cho bị cáo C và trực tiếp đo đất, giao đất).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo C1 thừa nhận: Bị cáo C, bị cáo C1, ông Q2, ông Đ6 bàn bạc phân công nhiệm vụ của từng người trong việc phân lô bán đất nghĩa trang; đó là: “Chia mỗi ô có kích thước nhỏ nhất là dài 10m, rộng 4,2 m, số tiền các hộ dân phải trả ít nhất là 10.000.000đ, công việc cụ thể: Ông C là người chỉ đạo và trực tiếp quy hoạch nghĩa trang, ông Đ6 thủ quỹ thu tiền bảo lại để giao đất cho các hộ dân, ông C duyệt và chỉ đạo giao đất, ông C1 và ông Q2 đo đất, giao đất (Bút lục 569, 570); Bị cáo C1 còn trình bày “những người trong ban quản trang gồm có nhiều người nhưng khi quyết định chia đất nghĩa trang để bán thì chỉ có tôi với ông C, ông Q2, ông Đ6” (Bút lục 536).

Tại phiên tòa phúc thẩm: Hội đồng xét xử tiến hành đối chất giữa ông Q2 với bị cáo C1 và với bị cáo C, ông Q2 vẫn thừa nhận có được bàn bạc như bị cáo C1 khai báo và bị cáo C là người chỉ đạo;

Điều đó chứng tỏ ông Q2 được bàn bạc và biết rõ bản thân phải làm gì và được hưởng lợi ích gì từ việc làm đó; Như vậy hành vi của ông Q2 đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và là đồng phạm với bị cáo C và bị cáo C1.

Từ các vi phạm của cấp sơ thẩm nêu trên: Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì: “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.”

Do đó các nội dung vi phạm thủ tục tố tụng nêu trên của cấp sơ thẩm mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa phúc thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án để điều tra lại là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Quan điểm đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Chí C là phù hợp được chấp nhận.

[5] Do bản án hình sự sơ thẩm bị hủy để điều tra lại nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo Lê Chí C.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Lê Chí C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a,b,c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2023/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.

[2] Giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ để điều tra lại theo thủ tục chung.

[3] Bị cáo Lê Chí C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án .

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND H. Thanh Ba;
  • - VKSND H. Thanh Ba;
  • - Công an H. Thanh Ba;
  • - Chi cục THADS H. Thanh Ba;
  • - UBND nơi các bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 32/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger