TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 29/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Thành Hưng
Ông Đỗ Cao Phương
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Huy - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Hoàng Tiến T, T gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/02/1990 tại xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu H, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Ngọc O (đã chết) và bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/9/2023, chuyển tạm giam ngày 11/9/2023. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Bích T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).
Bị hại: Anh Hoàng Thế H, sinh năm 1992 (có mặt).
Nơi cư trú: Khu H, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Phạm Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu Q, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 02/02/2014, Hoàng Tiến T3, sinh ngày 17/02/1990, ở khu H, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đến nhà anh Hoàng Thế H, sinh năm 1992, ở khu H, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ để hỏi mượn xe mô tô đi chơi tết và hẹn đến buổi chiều cùng ngày đem trả (T3 với anh H có mối quan hệ anh em họ). Anh Hòa đồng ý và cho T3 mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát 30Y6–4249 (chiếc xe mô tô thuộc quyền sở hữu của anh H và trong cốp xe mô tô có để 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 30Y6-4249). Sau khi mượn được xe mô tô, T3 điều khiển xe mô tô đi chơi đến buổi tối cùng ngày, do đã muộn nên T3 không mang xe để trả cho anh H như đã hứa mà mang về nhà ở của mình.
Đến khoảng 12 giờ ngày 03/02/2014 (Mùng 4 Tết AL), do cần tiền nên T3 nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh H để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do trước đó T3 biết anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1974, ở khu Q, xã P, huyện Y có ý định mua xe mô tô để dùng làm phương tiện đi lại, nên T3 đã điều khiển xe mô tô đến nhà của anh S. Tại đây T3 gặp và hỏi anh S có mua chiếc xe mô tô không. Anh S trả lời: “Có, nhưng xe có phải của em không? và có đầy đủ giấy tờ không?”. T3 trả lời “Xe của em, xe có đầy đủ giấy tờ”. T3 lấy các giấy tờ trong cốp xe đưa cho anh S xem. Sau đó T3 và anh S thỏa thuận mua bán chiếc xe mô tô với giá 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng), rồi viết giấy tờ mua bán với nhau. Sau khi bán được xe mô tô, T3 đã không nói cho anh H biết mà đã bỏ trốn khỏi địa phương và cắt không liên lạc với anh H. Số tiến bán chiếc xe mô tô T3 đã chi tiêu cá nhân hết.
Đối với anh Hoàng Thế H, ngày 03/02/2014 không thấy T3 đem xe trả, anh H đã điện thoại liên lạc với T3 nhưng không được và biết T3 đã chiếm đoạt mất chiếc xe mô tô 30Y6-4249 mang đi bán nên đã làm đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/02/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trưng cầu hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y xác định giá trị hiện tại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITIER, màu sơn: đen, bạc, biển kiểm soát 30Y6-4249.
Tại biên bản định giá tài sản số 03 ngày 06/02/2014 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y định giá và xác định: Giá trị chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITIER, màu sơn: đen, bạc, biển kiểm soát 30Y6–4249 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 17.640.000 đồng (Mười bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).
Hành vi của Hoàng Tiến T3 mượn của anh Hoàng Thế H 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 30Y6-4249, trị giá là 17.640.000 đồng, sau đó chiếm đoạt bán lấy tiền chi tiêu và bỏ trốn. Hành vi này có đủ yếu tố cầu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999.
Ngày 24/02/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định khởi tố bị can; lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hoàng Tiến T3 về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Hoàng Tiến T3 đã bỏ trốn khỏi địa phương; cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã; hết thời hạn điều tra vẫn chưa bắt được bị can; cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Hoàng Tiến T3. Ngày 08/9/2023, Hoàng Tiến T3 bị bắt theo lệnh truy nã, đến ngày 11/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự và quyết định phục hồi điều tra bị can đối với Hoàng Tiến T3 để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên toà hôm nay Hoàng Tiến T3 đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai của T3 phù hợp với lời khai bị hại, những người có liên quan, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Hoàng Tiến T3 đủ yếu tố cấu thành “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm điểm a, khoản 1, Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Theo bản Cáo trạng số 36/CT-VKSYL-HS ngày 10/11/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Tuyên bố: Hoàng Tiến T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Phạt Hoàng T4 Thực từ 1 (Một) năm 6 (S1) tháng đến 02 (H1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 08/9/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Lưu trữ trong hồ sơ của vụ án 01 giấy bán xe do anh Hoàng Tiến T3 và anh Nguyễn Văn S2 xác lập ngày 03/02/2014 là vật chứng của vụ án.
Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã thu giữ và trả lại cho anh Hoàng Thế H 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Exciter, màu đen bạc, biển kiểm soát: 30Y6-4249; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biểm kiểm soát 30Y6-4249 do Công an huyện P cấp ngày 28/10/2009.
Xác nhận Thực đã bồi thường đủ số tiền 13.000.000 đồng cho anh Nguyễn Ngọc S (là số tiền anh S bỏ ra để mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 30Y6-4249). Anh H, anh S không có yêu cầu đề nghị gì thêm.
Bị cáo T3 được miễn án phí vì là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bị cáo T3 không tranh luận gì về tội danh cũng như mức án mà Kiểm sát viên đề nghị với Hội đồng xét xử.
Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí nội dung bản luận tội về tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại: Nhất trí nội dung bản luận tội về tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt cho bị cáo theo pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khoảng 12 giờ ngày 02/02/2014, tại nhà ở của anh Hoàng Thế H, sinh năm 1992, ở khu H, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, Hoàng Tiến T3, sinh ngày 17/02/1990, ở khu H, xã P, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đã có hành vi mượn 01 chiếc xe mô tô, nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát: 30Y6-4249 (bên trong cốp xe mô tô 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 30Y6-4249), có giá trị là 17.640.000 đồng của anh Hoàng Thế H. Sau đó T3 đã chiếm đoạt bán chiếc xe mô tô trên cho anh Nguyễn Tiến S3 với giá 13.000.000 đồng để lấy tiền chi tiêu cá nhân và bỏ trốn.
Hành vi phạm tội của Hoàng Tiến T3 xảy ra ngày 02/02/2014, trước thời điểm Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành. Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
[2] S4 khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Hoàng Tiến T3 đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 với giá trị tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự là 17.640.000 đồng.
Điều 140 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: Tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tài sản.
“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
”.
[3] Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân vì tài sản hợp pháp của mọi công dân đều được pháp luật bảo vệ, bị cáo đã lợi dụng lòng tin mượn tài sản của bị hại rồi bán tài sản chiếm đoạt. Qúa trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra phải ra lệnh truy nã, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử vụ án. Do vậy cần phải xử lý bị cáo một cách nghiêm khắc trước pháp luật nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét nhân thân bị cáo thấy rằng: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, động cơ phạm tội của bị cáo T3 là vụ lợi, mục đích là muốn có tiền để tiêu sài cá nhân. Do vậy khi áp dụng hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo rõ ràng, thành khẩn nhận tội; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường giá trị tài sản chiếc xe mô tô cho anh S3; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hoàng Tiến T3; Bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước bị nhiễm chất độc hóa học là người có công với cách mạng. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cơ trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được xem xét hưởng thêm 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Từ những phân tích trên đây: Hội đồng xét xử thấy rằng phải cách ly ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để bị cáo sớm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 140 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”.
Tại biên bản xác minh tài sản và nguồn thu nhập thì bị cáo T3 nghề nghiệp lao động tự do, không có nguồn thu nhập gì. Tài sản riêng không có gì giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã làm rõ nguồn gốc, chủ sở hữu hợp pháp và ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cụ thể như sau:
Trả lại cho anh Hoàng Thế H 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Exciter, màu đen bạc, biển kiểm soát: 30Y6-4249; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biểm kiểm soát 30Y6-4249 do công an huyện P cấp ngày 28/10/2009 là phù hợp.
Đối với 01 giấy bán xe do anh Hoàng Tiến T3 và anh Nguyễn Văn S2 xác lập ngày 03/02/2014 là vật chứng của vụ án chứng minh hành vi phạm tội của bị can nên được lưu trữ trong hồ sơ của vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Hoàng Thế H đã nhận lại toàn bộ tài sản do Hoàng Tiến T3 chiếm đoạt. Anh Nguyễn Ngọc S đã yêu cầu T3 phải bồi thường số tiến 13.000.000 đồng (là số tiền anh S bỏ ra để mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 30Y6-4249), T3 và gia đình đã bồi thường đủ số tiền 13.000.000 đồng cho anh S. Anh H, anh S không có yêu cầu đề nghị gì thêm. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Trong vụ án này, đối với anh Nguyễn Ngọc S, quá trình điều tra đã chứng minh khi mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 30Y6-4249, anh S không biết chiếc xe trên là do T3 chiếm đoạt của anh H mà có. Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh S là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10] Trong quá trình điều tra, Hoàng Tiến T3 khai báo, sau khi thực hiện hành vi phạm tội T3 đã bỏ trốn sang Trung Quốc. Đến ngày 01/9/2023, Hoàng Tiến T3 trở về Việt Nam theo đường mòn ở tỉnh Lạng Sơn (không làm thủ tục xuất nhập cảnh). Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh trước đó T3 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này lần nào. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã chuyển Công an huyện Y để xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với T3 về hành vi xuất nhập cảnh trái phép là phù hợp.
[11] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[12] Bị cáo là người dân tộc thiểu số cứ trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có yêu cầu xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt là cao nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Hoàng Tiến T3 phạm “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Hoàng Tiến T (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 08/9/2023.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điểm a,b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận Hoàng Tiến T3 và gia đình đã bồi thường đủ số tiền 13.000.000₫ (Mười ba triệu đồng) cho anh Nguyễn Ngọc S. Anh S không có yêu cầu đề nghị gì.
Về xử lý vật chứng:
Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã thu giữ và trả lại cho anh Hoàng Thế H 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Exciter, màu đen bạc, biển kiểm soát: 30Y6-4249; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy biểm kiểm soát 30Y6-4249 do Công an huyện P cấp ngày 28/10/2009.
Lưu trữ trong hồ sơ của vụ án 01 giấy bán xe do anh Hoàng Tiến T3 và anh Nguyễn Văn S2 xác lập ngày 03/02/2014 là vật chứng của vụ án.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Hoàng Tiến T3 vì thuộc đối tượng người dân tộc thiểu số cơ trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có yêu cầu xin miễn án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - Cơ quan THAHS CA huyện; - THAHS; Chi cục THADS; - Bị cáo; Người TGTT khác; - Lưu HS (10b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuấn Anh |
Bản án số 32/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH PHÚ THỌ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 32/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hoàng Tiến Thực
