Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EAKAR

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 29/6/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Nguyễn Thế Hằng

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện EaKar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt- Kiểm sát viên.

Ngày 29/6/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 451/2024/TLST - HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 03/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Cao Thị T, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn 2, xã C, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Thôn 2, xã C, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Cao Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Phạm Văn L sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phương Công, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào ngày 17/12/1993. Trong quá trình chung sống do cả hai bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Cả hai đã cố gắng hòa giải nhưng không thành. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà T đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Phạm Văn L.

Về con chung: Bà T và ông L có 03 con chung là Phạm Văn N, sinh ngày 24/8/1994; Phạm Văn A, sinh ngày 15/9/1999 và Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013. Do con chung Phạm Văn N và Phạm Văn A đã thành niên nên bà T không yêu cầu giải quyết. Đối với Phạm Lan A bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung bà T không yêu cầu giải quyết.

*Bị đơn ông Phạm Văn L trình bày: Về thời gian đăng ký kết hôn, thời gian chung sống với nhau bà T trình bày là đúng. Trong thời gian do bà T có qua lại với người đàn ông khác nên cả hai phát sinh mâu thuẫn. Ông L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Tuy nhiên vì cả hai chưa thoả thuận được về tài sản chung nên ông L không đồng ý ly hôn.

Ông L và bà T có 03 con chung là Phạm Văn N, sinh ngày 24/8/1994; Phạm Văn A, sinh ngày 15/9/1999 và Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013. Về việc nuôi con chung ông L đề nghị theo nguyện vọng của các con.

Về tài sản chung, nợ chung tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T. Cho bà Cao Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn L.

Về con chung: Giao con chung Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Cao Thị T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện EaKar giải quyết việc hôn nhân, con chung đối với ông Phạm Văn L, đơn khởi kiện của bà T được Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị T và ông Phạm Văn L tự nguyện về sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phương Công, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào ngày 17/12/1993, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình sống chung hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy racãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T, cho bà Cao Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn L.

[2.2]Về con chung:Bà T và ông L có 03 con chung là Phạm Văn N, sinh ngày 24/8/1994; Phạm Văn A, sinh ngày 15/9/1999 và Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013.

Phạm Văn N, sinh ngày 24/8/1994; Phạm Văn A, sinh ngày 15/9/1999 đã trên 18 tuổi, có thể tự lao động nuôi sống bản thân, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Đối với cháu Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013có nguyện vọng được sinh sống với bà T, mặt khác qua xác minh chính quyền địa phương thì bà T có công việc, thu nhập ổn định có thể đảm bảo đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi đủ 18 tuổi.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết

[2.3]Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[3]Về án phí: Bà Cao Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, Điều 217, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị T.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị T được ly hôn với ông Phạm Văn L.

[2]. Về con chung: Giao con chung Phạm Lan A, sinh ngày 10/01/2013 cho bà Cao Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không giải quyết.

Ông Phạm Văn L được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông L không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[4]. Về án phí: Bà Cao Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2023/0000169, ngày 24 tháng 11 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

[5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện EaKar;
  • - Chi cục THADS huyện EaKar;
  • - UBND xã Phương Công, H.Tiền Hải, T.Thái Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Nhã Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ – ST ngày 29/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Cao Thị T yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Phạm Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger