|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 28 tháng 8 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1 – Ông Đậu Đức Đông
2 – Ông Nguyễn Văn Quế
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung- Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Ông Văn Đức Châu- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Vang Văn L Tên gọi khác: không; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1990 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Hốc, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vang Văn M, sinh năm 1966 và Con bà: Vi Thị X, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Vang Văn L bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2024 đến nay. Có mặt tại điểm cầu xét xử trực tuyến tại Trại giam Công an tỉnh N.
Người bào chữa cho bị cáo Vang Văn L: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An
-
Họ và tên: Lê Văn H, T1 gọi khác: không; Sinh ngày 05 tháng 5 năm 1997 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm F, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N (đã chết) và Con bà: Lê Thị T2, sinh năm 1966; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo Lê Văn H bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2024 đến nay. Có mặt tại điểm cầu xét xử trực tuyến tại Trại giam Công an tỉnh N.
Người làm chứng:
Anh Trương Thế T3, sinh năm 2006;
Trú tại: Bản C, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An
Vắng mặt.
Anh Lô Văn T4, sinh năm 1989
Trú tại: Bản C, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ an;
Vắng mặt.
Anh Lê Nhật Q, sinh năm 1989
Trú tại: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh
Chỗ ở hiện nay: Xóm X, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An
Vắng mặt.
Anh Lô Văn T5, sinh năm 1996
Trú tại: Bản C, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ an;
Vắng mặt.
Anh Lương Văn Đ, sinh năm 1990.
Trú tại: Bản C, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ an;
Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
Chị Vang Thị S, sinh năm 1995.
Trú tại: Bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ an;
Vắng mặt.
Ông Nguyễn Sỹ Đ1, sinh năm 1960
Trú tại: Xóm X, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt.
Anh Lương Văn P, sinh năm 1988
Trú tại: Bản H, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ an;
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn H là người nghiện chất ma túy, để có ma túy sử dụng nên vào hồi 17 giờ 37 phút ngày 20/4/2024, Lê Văn H sử dụng tài khoản Zalo của mình có tên “Hung coi" được đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, gắn thẻ sim có số thuê bao 0905.236.925 nhắn tin đến tài khoản Zalo mang tên “Lâm Hen” của Vang Văn L (sinh năm 1990, trú tại bản Hốc, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An) hỏi mua ma tuý sử dụng thì được Vang Văn L đồng ý bán ma tuý cho Lê Văn H với số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, Lê Văn H sử dụng tài khoản ứng dụng ví điện tử Momo của mình được cài đặt trên điện thoại di động và liên kết với tài khoản ngân hang M1 số tài khoản 0000104256666 mang tên Lê Văn H chuyển số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) đến số tài khoản 0985702600 (ngân hàng M2) mang tên Vang Văn L để đặt mua ma tuý. Tại thời điểm nhận tiền của H, Vang Văn L chưa có ma tuý để sử dụng và bán cho Lê Văn H nên đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Vang Văn L đón xe Taxi từ nhà mình đi đến khu vực bản Mường Lống, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma tuý. Tại đây, Vang Văn L đã tìm gặp được một người đàn ông không quen biết (Vang Văn L không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ ở đâu) bán ma tuý. Sau khi trao đổi, thống nhất thì Vang Văn L mua của người này gồm: 01 túi nilon màu xanh hình chữ nhật, bên trong có chứa 200 viên nén màu hồng, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên mỗi mặt của một viên có chữ WY và 02 viên nén màu xanh mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ A, mặt còn lại có chữ Y1 là ma tuý loại hồng phiến với số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) và 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng là ma tuý Heroine với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Sau khi mua được số ma tuý trên, Vang Văn L cất dấu vào trong người rồi đón xe T6 về nhà mình và đưa số ma tuý vừa mua được cất dấu dưới chiếc chiếu trải trên mặt sàn gỗ gian bếp ở tầng 02 của sàn nhà nhằm mục đích để bán cho Lê Văn H số ma tuý mà H đã đặt mua trước đó và để sử dụng dần. Đến sáng ngày 21/4/2024, Vang Văn L lấy túi nilon có chứa chất ma tuý loại Heroine ra, rồi sử dụng 01 chiếc dao lam màu bạc và một chiếc cân tiểu li (loại điện tử) để cắt, chia một phần nhỏ ma tuý mà Lê Văn H đặt mua trước đó rồi gói trong một túi nilon màu hồng, ngoài ra Vang Văn L còn cắt chia một ít ma tuý để vào túi 1 nilon màu hồng rồi dán kín lại để sử dụng dần. Tiếp đó Vang Văn L lấy gói ma tuý bán cho Lê Văn H để vào chiếc hộp giấy cát tông hình chữ nhật có kích thước (14x12x13)cm, bên trong rải nhiều mảnh lá chuối khô rồi dán kín lại và ghi số điện thoại của người nhận là Lê Văn H ở mặt ngoài hộp giấy cát tông. Toàn bộ số ma tuý còn lại Vang Văn L cất dấu ở chỗ cũ nhằm mục đích để sử dụng dần mà không nhằm mục đích bán cho người khác. Sau đó, Vang Văn L lấy hộp giấy cát tông chứa ma tuý cất dấu vào người rồi đón xe khách đi xuống thị trấn Q và gửi hộp giấy cát tông đó cho anh Lê Nhật Q (sinh năm 1989, trú tại xóm X, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An) là nhân viên phụ xe Buýt Đông Bắc chạy tuyến Q - V để chuyển hộp giấy cát tông đó cho Lê Văn H tại khu vực ngã 3 Đ, thị xã T (anh Lê Nhật Q không kiểm tra và cũng không biết trong hộp cát tông có chứa chất ma tuý), sau khi đã gửi được hộp giấy cát tông bên trong có chứa chất ma tuý thì Vang Văn L báo lại cho Lê Văn H biết để nhận hộp giấy cát tông đó.
Đến khoảng 12 giờ ngày 21/4/2024, Lê Văn H đến điểm dừng xe buýt tại ngã 3 Đ nhận hộp giấy cát tông có chứa chất ma tuý từ xe Buýt mà Vang Văn L bán và gửi qua xe buýt cho H. Sau khi nhận được ma tuý, Lê Văn H cất dấu trong người đi bộ đến khu vực xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An để tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thị xã T phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 hộp giấy cát tông hình chữ nhật có kích thước (14x12x13)cm được dán kín, bên trong có nhiều mảnh lá chuối khô và 01 túi nilon màu hồng trong suốt, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám bạc đã qua sử dụng, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0905.236.925 là chiếc điện thoại di động mà Lê Văn H sử dụng để giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý với Vang Văn L trước đó.
Sau khi giao ma tuý cho Lê Văn H xong, Vang Văn L trở về nhà lấy 02 viên ma tuý loại hồng phiến và một ít ma tuý loại Heroine ra sử dụng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, có anh Trương Thế T3 (sinh năm 2006, trú tại bản Chao, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An) và anh Lô Văn T4 (sinh năm 1989, trú tại bản Cướm, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An) đến nhà ăn cơm, uống rượu. Lúc này Vang Văn L lấy số ma tuý Heroine cất dấu trước đó ra và dùng dao lam cắt, chia thành các mảnh nhỏ rồi bỏ ma tuý lên mảnh giấy bạc để một mình L sử dụng. Cùng lúc này có anh Lô Văn T5 (sinh năm 1996) cùng anh Lương Văn Đ (sinh năm 1990), cùng trú tại bản Cướm, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An đến nhà Vang Văn L để hỏi mua ma tuý sử dụng, nhưng chưa kịp hỏi mua ma tuý thì tổ công tác Công an thị xã T phối hợp với Công an huyện Q thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nên Vang Văn L và Lô Văn T4 bỏ chạy.
Quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vang Văn L, Tổ công tác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T phát hiện thu giữ tại vị trí dưới chiếc chiếu trên mặt sàn gỗ gian bếp tầng 2 của nhà sàn 01 túi màu xanh hình chữ nhật có kích thước (6,5x9)cm, bên trong có chứa 198 viên nén màu hồng, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ WY và 02 viên nén màu xanh mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ A, mặt còn lại có chữ Y1 nghi là ma tuý. Thu giữ trên mặt sàn gian bếp tầng 02 của nhà sàn gồm: 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chứa nhiều cục chất bột màu trắng nghi là ma tuý Heroine; 01 túi nilon trong suốt được dán kín, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng, hình không xác định nghi là ma tuý Heroine; Nhiều mảnh chất bột màu trắng, hình không xác định, nghi là ma tuý Heroine; 02 mảnh giấy bạc, bên trên bề mặt có chứa các cục chất bột màu trắng đang cháy dở nghi là ma tuý Heroine; 01 chai nhựa trong suốt, cao 21cm, trên thân chai được đục 01 lỗ nhỏ, có cắm ống tre để sử dụng ma tuý loại hồng phiến; 01 lưỡi dao lam màu bạc, một mặt có chữ “CROM PREMIUM”; 01 cân tiểu ly nhãn hiệu “POCKET SCALE”, màu đen, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96, màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số thuê bao 0985.702.600. Đến 01 giờ ngày 23/4/2024 khi Vang Văn L đang lẩn trốn tại khu vực bản Ban, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Ngày 21 và 23/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng là chất ma tuý thu giữ của Lê Văn H và Vang Văn L.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ của Lê Văn H xác định: 01 hộp giấy cát tông hình chữ nhật, có kích thước (14x12x13)cm được dán kín, bên trong có nhiều mảnh lá chuối khô và 01 gói nilon màu hồng trong suốt, bên trong chứa cục chất bột màu trắng. Sau khi loại bỏ bao bì: Cục chất bột màu trắng có khối lượng là 0,73 gam (không phẩy bảy mươi ba gam). Hội đồng đã lấy 0,16g (không phẩy mười sáu gam gửi giám đinh. Số vật chứng chất bột màu trắng còn lại 0,57g (không phẩy năm mươi bảy gam) được niêm phong lại theo đúng quy định.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng thu giữ của Vang Văn L xác định:
- - 01 (Một) túi nilon màu xanh, hình chữ nhật có kích thước (6,5x9)cm, bên trong có 198 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh (Ký hiệu là 1). Sau khi loại bỏ bao bì: 198 (Một trăm chín mươi tám) viên nén màu hồng thu giữ của Vang Văn L có khối lượng: 19,85g (Mười chín phẩy tám mươi lăm gam). Hội đồng đã lấy 05 viên nén màu hồng có khối lượng 0,52g (không phẩy năm mươi hai gam) gửi giám định (Ký hiệu M1) và 02 viên nén màu xanh thu giữ của Vang Văn L có khối lượng: 0,21g (Không phẩy hai mươi mốt gam). Hội đồng đã lấy 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,09g (không phẩy không chín gam) gửi giám định (Ký hiệu M2). Số vật chứng còn lại 193 viên nén màu hồng có khối lượng 19,33g (Mười chín phẩy ba mươi ba gam) và 01 viên nén màu xanh có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam) được niêm phong lại theo đúng quy định.
- Tổng khối lượng viên nén màu hồng và màu xanh thu giữ của Vang Văn L là: 20,06g (Hai mươi phẩy không sáu gam).
- - 01 (Một) túi nilon trong suốt, bên trong có chứa nhiều cục chất bột màu trắng thu giữ của Vang Văn L, sau khi loại bỏ bao bì số cục chất bột màu trắng có khối lượng 17,36g (Mười bảy phẩy ba mươi sáu gam) (Ký hiệu là 2). Hội đồng lấy 1,34g (Một phẩy ba mươi tư gam) gửi giám định (Ký hiệu M3). Số vật chứng cục chất bột màu trắng còn lại 16,02g (Mười sáu phẩy không hai gam) được niêm phong lại theo quy định.
- - 01 (Một) túi nilon trong suốt được dán kín, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng thu giữ của Vang Văn L, sau khi loại bỏ bao bì số cục chất bột màu trắng có khối lượng 0,05g (Không phẩy không năm gam) (Ký hiệu là 3). Hội đồng lấy toàn bộ 0,05g (Không phẩy không năm gam) gửi giám định (Ký hiệu M4).
- - 02 (Hai) mẫu giấy bạc, bên trên có các cục chất bột màu trắng thu giữ của Vang Văn L, sau khi loại bỏ bao bì số cục chất bột màu trắng có khối lượng 0,02 (Không phẩy không hai gam) (Ký hiệu là 4). Hội đồng lấy toàn bộ 0,02g (Không phẩy không hai gam) gửi giám định (Ký hiệu M5).
- - 01 (Một) túi nilon trong suốt, bên trong có chứa các cục chất bột màu trắng thu giữ của Vang Văn L, sau khi loại bỏ bao bì số cục chất bột màu trắng có khối lượng 1,26g (Một phẩy hai mươi sáu gam) (Ký hiệu là 5). Hội đồng lấy 0,3g (Không phẩy ba gam) gửi giám định (Ký hiệu M6). Số vật chứng cục chất bột màu trắng còn lại 0,96g (Không phẩy chín mươi sáu gam) được niêm phong lại theo quy định.
- Tổng khối lượng cục chất bột màu trắng thu giữ của Vang Văn L là: 18,69g (Mười tám phẩy sáu mươi chín gam).
- Tổng khối lượng hai loại ma tuý thu giữ của Vang Văn L là: 38,75g (Ba mươi tám phẩy bảy mươi lăm gam).
Tại bản kết luận giám định số 460/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 28/4/2024 của phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- - Mẫu chất bột màu trắng thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lê Văn H gửi đến giám định là ma tuý; loại Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn H1 khối lượng là 0,73g (không phẩy bảy mươi ba gam).
- - Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2) gửi đến giám định đều là ma tuý; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng và viên nén màu xanh thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vang Văn L có tổng khối lượng là 20,06g (Hai mươi phẩy không sáu gam).
- - Các mẫu vật (ký hiệu M3, M4, M5, M6) gửi đến giám định đều là ma tuý; loại Heroine. Số chất bột màu trắng thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vang Văn L có tổng khối lượng là 18,69g (Mười tám phẩy sáu mươi chín gam).
Quá trình điều tra vụ án, Vang Văn L và Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố bị cáo Vang Văn L về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản1 Điều 251-BLHS; truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249- BLHS;
Tại phiên toà hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38 -BLHS, tuyên bố bị cáo Vang Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Vang Văn L từ 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù đến 11 (mười một) năm tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38- BLHS, tuyên bố bị cáo Vang Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt Vang Văn L từ 30 (ba mươi) tháng đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù.
- Áp dụng Điều 55 – BLHS năm 2015, tổng hợp hình phạt buộc Vang Văn L phải chấp hành 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 -BLHS. Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 18 tháng đến 20 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
- +Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại thu giữ của Vang Văn L và Lê Văn H và 01 (một) chai nhựa màu trong suốt, kích thước chiều cao 21cm, trên thân chai được đục 01 (một) lỗ nhỏ, có cắm ống tre; 01 (một) lưỡi dao lam màu bạc, một mặt có chữ “CROM PREMIUM";
- + Tuyên tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước gồm:
- 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96, màu xanh; số Imei 1: 867407067613058, gắn thuê bao số 0985.702.600 thu giữ của Vang Văn L;
- 01 (một) chiếc điện thoại di động mang nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám bạc, số Imei 353328078593157, gắn sim số 0905.236.925, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) cân tiểu ly nhãn hiệu “POCKET SCALE”, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Vang Văn L;
- Toàn bộ số vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành dân sự thị xã T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/ 2024.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 47 BLHS. Truy thu tại bị cáo Vang Văn L số tiền 1.200.000đ do bị cáo L bán ma túy mà có;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vang Văn L, Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã có căn cứ xác định:
Vào hồi 17 giờ 37 phút ngày 20/4/2024, Lê Văn H đã nhắn tin qua Zalo đặt mua ma tuý loại Heroine của Vang Văn L với số tiền 1.200.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng thì được Vang Văn L đồng ý. Sau đó, Vang Văn L đi lên khu vực Bản Mường L1, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An mua của một người đàn ông không quen biết 02 túi nilon bên trong các túi có chứa 200 viên nén màu hồng và màu xanh là ma tuý loại Methamphetamine với số tiền 2.500.000đ và nhiều cục chất bột màu trắng là ma tuý loại Heroine với số tiền 5000.000 đồng. Tổng số tiền L mua ma tuý là 7.500.000₫ nhằm mục đích để bán cho Lê Văn H như đã thoả thuận trước và số ma tuý con lại cất giấu để sử dụng dần. Sau khi mua được ma tuý, Vang Văn L đưa về nhà mình cất giấu trong gian bếp tầng hai của nhà sàn. Đến sáng ngày 21/4/2024, Vang Văn L lấy túi nilon chứa ma tuý loại Heroine ra cắt, chia một phần nhỏ có khối lượng 0,73g (Không phẩy bảy mươi ba gam) rồi gói vào hộp giấy cát tông gửi qua đường xe Buýt để bán cho Lê Văn H. Khi Lê Văn H nhận gói ma tuý mua từ Vang Văn L, Lê Văn H cất dấu gói ma tuý trên rồi đi đến khu vực xóm Đ, xã Đ, thị xã T, tỉnh Nghệ An để tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Sau khi gửi số ma tuý bán cho Lê Văn H xong, Vang Văn L về nhà mình tại bản Hốc, xã D, huyện Q, tỉnh Nghệ An lấy số ma tuý loại Heroine cất giấu trước đó ra sử dụng một ít và cắt, chia ra nhiều túi khác nhau nhằm mục đích để sử dụng dần thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T tiến hành khám xét khẩn cấp thu giữ toàn bộ số ma tuý mà Vang Văn L cất giấu trong gian bếp nhà sàn tầng 2 nhà mình và nhiều vật chứng khác. Tổng khối lượng hai chất ma tuý thu giữ của Vang Văn L tàng trữ là 38,75g (Ba mươi tám phẩy bảy mươi lăm gam). Đến ngày 23/4/2024, Vang Văn L đang lẩn trốn tại khu vực Bản Ban 1, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
Hành vi của Vang Văn L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự và hành vi của của Lê Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã tuy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an chung tại địa phương nên việc đưa vụ án Vang Văn L bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Lê Văn H bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” ra xét xử công khai trực tuyến là cần thiết; H là người nghiện chất ma tuý và đã hỏi mua ma túy của L và được L đồng ý bán. Sau đó H đã chuyển khoản số tiền 1.200.000₫ cho cho L vào 19 giờ ngày 20/4/2024, đến 22 giờ cùng ngày, để có ma tuý bán cho H và để sử dụng dần, Vang Văn L đã đi mua 200 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh với số tiền 2.500.000đ và 01 gói chất bột màu trắng với số tiền 5.000.000đ. Sau khi mua được ma tuý và đem về cất giấu tại nhà, L đã chia số ma tuý loại Hêroine ra 01 gói có khối lượng 0,73gam với mục đích là bán cho H với số tiền 1.200.000₫ mà H đã gửi trước đó; Số ma túy còn lại L không bán cho ai mà cất giấu để sử dụng dần và đến 18 giờ ngày 21/4/2024 thì bị phát hiện thu giữ; bị cáo L Tàng trữ khối lượng ma túy lớn gồm 20,06 gam ma túy Methamphetaimine và 18,69 gam hêroine, tổng khối lượng bị cáo L tàng trữ là 38,75 gam. Bị cáo L biết được việc việc tàng trữ trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chấp ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo L vẫn cố tình thực hiện, nên bị cáo L phải chịu trách nhiệm hình sự về 2 tội danh là “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 điều 249 và tội “Mua bán chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.
Và cần thiết lên một mức án thật nghiêm minh với tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo L. Cần áp dụng điều 55 -BLHS để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Vang Văn L;
Đối với bị cáo H là người nghiện chất ma túy, bị cáo mua ma túy của L nhằm mục đích sử dụng và bị bắt quả tang khi đang tàng trữ 0,73 gam ma túy Hêroine nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về tội tàng “Trữ trái phép chấp ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249- BLHS. Bị cáo H biết tàng trữ trái phép chất ma túy bị nhà nước cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện để thỏa mãn cơn nghiện.
Tuy nhiên cũng xét cho các bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 điều 51 - BLHS năm 2015, nên cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt. Tuy nhiên việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan CSĐT Công an thị xã T thu giữ của Vang Văn L 198 viên hồng phiến có khối lượng: 19,85 gam ma túy và 02 viên nén màu xanh có khối lượng 0,21 gam. Tổng số viên nén màu hồng và xanh có khối lượng là 20,06gam. Tổng số Hêroine thu giữ của Vang Văn L có khối lượng 18,69 gam; thu giữ của Lê Văn H 0,73 gam ma túy Hêroine.
Cơ quan Điều tra đã tiến hành lấy mẫu giám định đối với chất ma tuý loại Methamphetamine gồm: 0,61 gam ( gồm 01 viên ma tuý màu xanh và 05 viên ma tuý màu hồng); Số vật chứng ma túy loại Methamphetamine còn lại thu giữ của Vang Văn L2 gồm 193 viên nén màu hồng (khối lượng19,33gam) và 01 viên nén màu xanh ( khối lượng 0,12 gam), tổng khối lượng ma tuý loại Methamphetamine còn lại là 19,45 gam ma tuý;
Cơ quan Điều tra đã tiến hành lấy mẫu giám định đối với chất ma tuý loại Hêroine thu giữ của Vang Văn L gồm: 1,71 gam ma tuý Hêroine, số ma tuý Hêroine thu giữ của Vang Văn L còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 16,98gam;
Cơ quan Điều tra đã tiến hành lấy mẫu giám định đối với chất ma tuý loại Hêroine thu giữ của Lê Văn H gồm: 0,16 gam ma tuý Hêroine, số ma tuý Hêroine thu giữ của Lê Văn H còn lại sau khi lấy mẫu giám định là 0,57 gam;
Số vật chứng là ma tuý thu giữ của Vang Văn L và Lê Văn H còn lại sau khi lấy mẫu giám định cần tịch thu, tiêu huỷ theo quy định.
Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ của Vang Văn L 01 (một) chai nhựa màu trong suốt, kích thước chiều cao 21cm, trên thân chai được đục 01 (một) lỗ nhỏ, có cắm ống tre (ký hiệu là 6); 01 (một) lưỡi dao lam màu bạc, một mặt có chữ “CROM PREMIUM”). Đây là công cụ L sử dụng vào việc sử dụng ma tuý nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Cơ quan điều tra còn thu giữ 02 chiếc điện thoại của Vang Văn L và Lê Văn H sử dụng vào việc giao dịch mua bán ma túy và thu giữ của Vang Văn L 01 (một) cân tiểu ly nhãn hiệu “POCKET SCALE”, màu đen, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện, công cụ mà L và H dùng việc giao dịch mua bán ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước;
Toàn bộ số vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thị hành án Dân sự thị xã T theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2024.
Về biện pháp tư pháp: Truy thu tại bị cáo Vang Văn L số tiền 1.200.000đ do bán ma túy cho Lê Văn H mà có.
[5] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vang Văn L do không xác định được họ tên lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý; Đối với Trương Thế T3, Lô Văn T4; Lô Văn T5, Lương Văn Đ có đến nhà Vang Văn L nhưng không thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét; đối với anh Lê Nhật Q là người nhận vận chuyển hộp cát tông cho Vang Văn L nhưng anh Q không biết trong hộp cát tông đó có chứa ma tuý nên anh Q không phạm tội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ vào điểm h khoản 3 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38- BLHS năm 2015;
Xử phạt bị cáo Vang Văn L 10 (mười) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Căn cứ vào khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38- BLHS năm 2015.
Xử phạt bị cáo Vang Văn L 30 ( ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55- BLHS, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội buộc bị cáo Vang Văn L phải chấp hành 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2024.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 -BLHS năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 18 (mười tám) tháng tù về “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý", thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 21 tháng 4 năm 2024.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 - BLTTHS năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 (một) chai nhựa màu trong suốt, kích thước chiều cao 21cm, trên thân chai được đục 01 (một) lỗ nhỏ, có cắm ống tre (ký hiệu là 6); 01 (một) lưỡi dao lam màu bạc, một mặt có chữ “CROM PREMIUM” (ký hiệu là 7) được niêm phong theo đúng quy định, trên các mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong.
- - 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (16x23)cm được dán kín bên trong có chứa vỏ giấy niêm phong; 01 (một) túi ni lông trong suốt, bên trong có chứa 16,02g (mười sáu phẩy không hai gam) chất bột màu trắng là ma túy Heroine còn lại trong gói (ký hiệu là 2) được ký hiệu A3; 01 (một) túi ni lông trong suốt trong gói (ký hiệu là 3) được ký hiệu A4; 02 (hai) mẩu giấy bạc trong gói (ký hiệu là 4) được ký hiệu A5 và 01 (một) túi ni lông trong suốt, bên trong có chứa 0,96g (không phẩy chín mươi sáu gam) chất bột màu trắng là ma túy Heroine còn lại trong gói (ký hiệu là 5) được ký hiệu A6, được niêm phong theo đúng quy định trên các mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong và chữ ký của Vang Văn L.
- - 01 (một) hộp giấy cát tông hình chữ nhật, có kích thước (14x12x13)cm, được dán kín bên trong có chứa vỏ giấy niêm phong, nhiều mảnh lá chuối khô và 01 (một) gói ni lông màu hồng trong suốt, hình dạng không xác định và cục chất bột màu trắng là ma túy Heroine có khối lượng là 0,57g (không phẩy năm mươi bảy gam) được niêm phong theo đúng quy định.
- - 01 (một) phong bì thư hình chữ nhật, kích thước (10x18)cm được dán kín bên trong có chứa vỏ giấy niêm phong; 193 (một trăm chín mươi ba) viên nén màu hồng, mỗi viên có đường kính 0,5cm, trên một mặt của mỗi viên có chữ “WY” là ma túy có tổng khối lượng 19,33g (mười chín phẩy ba mươi ba gam) và 01 (một) viên nén màu xanh, mỗi viên có đường kính 0,5cm, một mặt của mỗi viên có in dòng chữ “A” mặt còn lại ghi dòng chữ “Y1” là ma tuý có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam) được niêm phong theo đúng quy định.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tuyên tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước gồm:
- 01(một) máy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96, màu xanh; số Imei 1: 867407067613058, gắn thuê bao số 0985.702.600, đã qua sử dụng thu giữ của Vang Văn L;
- 01 (một) chiếc điện thoại di động mang nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám bạc, số Imei 353328078593157, gắn sim số 0905.236.925, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Văn H;
- 01 (một) cân tiểu ly nhãn hiệu “POCKET SCALE”, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Vang Văn L;
Toàn bộ số vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Thái Hòa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/7/2024.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 47 BLHS. Truy thu tại bị cáo Vang Văn L số tiền 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng) do bị cáo L bán ma túy mà có;
-
Án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc các bị cáo Vang Văn L, Lê Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự (tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tàng trữ và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST Vang Van Lam
