Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Phượng.
  2. Ông Trần Văn Tảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thương Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn C, sinh ngày 20/02/1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H và bà Hà Thị Ngọc K; vợ: Nguyễn Thị Diễm H1 (đã ly hôn), con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Quốc T, sinh ngày 09/10/2000, tại tỉnh Long An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung C1 và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: ngày 15/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Biên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/5/2019 chấp hành xong (đã xóa án tích); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  3. Phạm Chí L1, sinh ngày 18/3/2000, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Võ Thị L2; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. Vũ H2, sinh ngày 25/4/2001, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ và bà Lê Thị Bảo C2 (đã chết); vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/10/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 04/7/2023, bị cáo Nguyễn Quốc T, anh Huỳnh Minh K1, sinh năm 2003, ngụ ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và chị Nguyễn Đào Thảo V, sinh năm 2006, ngụ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đến nhà bị cáo Lê Văn C ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh chơi. Lúc này, bị cáo C nảy sinh ý định tìm ma túy để cùng nhau sử dụng nên bị cáo Công điện t kêu bị cáo Phạm Chí L1 mua ma túy mang đến nhà bị cáo C sử dụng, bị cáo L1 đồng ý. Bị cáo L1 tiếp tục rủ bị cáo Vũ H2 đi mua ma túy và bị cáo H2 đồng ý. Cả hai đi đến khu vực phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh gặp một thanh niên (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với số tiền 300.000 đồng. Trên đường đi, bị cáo L1 và bị cáo H2 thỏa thuận bị cáo L1 sẽ bỏ ra trước số tiền 300.000 đồng mua ma túy, nếu đến nhà bị cáo C sử dụng mà bị cáo C không trả tiền lại thì bị cáo L1 và bị cáo H2 mỗi người sẽ hùn số tiền 150.000 đồng thì bị cáo H2 đồng ý.

Trong thời gian chờ bị cáo L1 đến, bị cáo C dùng xe mô tô chở bị cáo T đến tiệm Internet thuộc ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh để gặp anh Hồ Vĩ T1, sinh năm 2006, ngụ ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để mượn xe của anh T1 đi công việc thì anh T1 đồng ý. Bị cáo C kêu bị cáo T điều khiển xe mô tô của bị cáo C về nhà trước còn bị cáo C điều khiển xe của anh T1 đi đến khu vực cây xăng Đ1, thuộc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh gặp một thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng. Sau đó, bị cáo C cất giấu bịch ma túy và điều khiển xe mô tô quay lại tiệm Internet trả xe và rủ anh T1 đến nhà chơi thì anh T1 đồng ý, rồi cùng đến nhà bị cáo C.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, tại nhà bị cáo C có bị cáo C, bị cáo T, anh T1, chị V và anh K1, lúc này bị cáo C đưa ma túy cho bị cáo T để đổ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy thì bị cáo L1 gọi điện thoại cho bị cáo C nói đã mua được ma túy và đang chở bị cáo H2 đến nhà. Sau khi nghe điện thoại, bị cáo C kêu bị cáo T cất giấu bịch ma túy, để bị cáo L1 mang ma túy đến sử dụng trước. Sau đó, bị cáo L1 cùng bị cáo H2 đến và đi vào phòng ngủ của bị cáo C có bị cáo T, anh T1, chị V đợi sẵn. Tại đây, bị cáo C lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo L1 đổ một phần ma túy vào bộ dụng cụ để sử dụng, phần ma túy còn lại bị cáo L1 đưa cho bị cáo C, bị cáo C đưa bịch ma túy cho bị cáo T cất giữ rồi cùng nhau sử dụng ma túy.

Sau khi sử dụng xong thì bị cáo L1, bị cáo H2 và anh T1 đi về, đến khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Quốc Toàn N1, sinh năm 2002, trú tại ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh đến nhà bị cáo Công chơi thì bị cáo C rủ anh N1 sử dụng ma túy, anh N1 đồng ý. Bị cáo T mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy đi rửa sau đó lấy số ma túy còn lại do bị cáo L1 mang đến đổ vào bộ dụng cụ để sử dụng cùng bị cáo C, anh N1 và chị V. Sau khi sử dụng xong, cả nhóm ở tại phòng ngủ của bị cáo C.

Khoảng 01 giờ ngày 05/7/2023, T3 (chưa rõ nhân thân, địa chỉ) là bạn của bị cáo C đến thì bị cáo C rủ T3 sử dụng ma túy, T3 đồng ý. Bị cáo C kêu bị cáo T lấy ma túy cất giữ lúc đầu do bị cáo C đi mua mang ra đổ vào bộ dụng cụ sử dụng. Những người tham gia sử dụng gồm bị cáo C, bị cáo T, chị V và T3. Sau khi sử dụng ma túy xong, T3 đi về, những người còn lại tiếp tục ở lại tại nhà bị cáo C. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra thì bị cáo C bỏ chạy và vứt bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bị cáo C không rõ vứt ở đâu.

Trong những lần sử dụng ma túy có mặt của anh Huỳnh Minh K1 nhưng anh K1 không tham gia sử dụng.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể:

  • - Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trạm y tế xã Tân Phong ngày 05/7/2023 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T, chị Nguyễn Đào Thảo V, anh Nguyễn Quốc Toàn N1 và anh Huỳnh Minh K1 thể hiện: Bị cáo T, chị V và anh N1 dương tính với ma túy, loại Methamphetamine; anh K1 âm tính với ma túy.
  • - Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trạm y tế xã Tân Phong ngày 06/7/2023 đối với bị cáo Phạm Chí L1 thể hiện: Bị cáo Linh dương t1 với ma túy.
  • - Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trạm y tế thị trấn Tân Biên ngày 26/10/2023 đối với bị cáo Phạm Chí L1 và bị cáo Vũ H2 thể hiện: Bị cáo L1 và bị cáo Hải dương t2 với ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Trạm y tế thị trấn Tân Biên ngày 27/12/2023 đối với bị cáo Lê Văn C thể hiện: Bị cáo C âm tính với ma túy.

Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSTB ngày 02 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Quốc T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Phạm Chí L1 và Vũ H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Quốc T, Phạm Chí L1 và Vũ H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn C mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.
  • Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
  • Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Chí L1 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù; xử phạt bị cáo Vũ H2 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Các bị cáo C, T, L1, H2 nhận thức được hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình, làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo:

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo C, T, L1 và H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản kiểm tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Trong khoảng thời gian từ ngày 04/7/2023 đến ngày 05/7/2023, tại nơi ở của bị cáo C ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo C và bị cáo T 03 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo L1 và bị cáo H2 01 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:

Lần 1: Các bị cáo C, T, L1 và H2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng anh Hồ Vĩ T1 và chị Nguyễn Đào Thảo V.

Lần 2: Các bị cáo C, T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng chị Nguyễn Đào Thảo V và anh Nguyễn Quốc Toàn N1.

Lần 3: Các bị cáo C, T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng chị Nguyễn Đào Thảo V và người tên T3.

Trong đó, chị Nguyễn Đào Thảo V là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố các bị cáo C, T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo L1, H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Đối với 02 người trở lên” và “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện thể hiện thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội và cần có mức án thật nghiêm khắc đối với từng hành vi của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên tất cả các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo T tự thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.4] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, thấy rằng:

Bị cáo C là người khởi xướng, rủ rê, cung cấp địa điểm, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm cao nhất trong vụ án.

Bị cáo T là người tiếp nhận ý chí của bị cáo C về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, giúp sức cho bị cáo C cất giấu ma túy và các lần sử dụng ma túy đều do bị cáo T chuẩn bị dụng cụ nhưng bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên bị cáo sẽ chịu trách nhiệm sau bị cáo C.

Bị cáo L1 và bị cáo H2 là người cung cấp chất ma túy sử dụng một lần nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi của mình, sau bị cáo T.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng trong vụ án là dụng cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng.

[6] Đối với người bán ma túy cho bị cáo L1 và người tên T2 bán ma túy cho bị cáo C, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với anh Hồ Vĩ T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng hiện anh T1 đi đâu, làm gì không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đề nghị Công an xã T tiếp tục xác minh làm rõ là có căn cứ.

Đối với anh Huỳnh Minh K1 có mặt tại nơi ở của bị cáo C nhưng không tham gia sử dụng ma túy, hiện anh K1 không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ là có căn cứ.

Đối với bà Phan Thị X, sinh năm 1955, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là bà nội của bị cáo C, là chủ sở hữu căn nhà mà bị cáo C tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bà X không biết việc bị cáo C sử dụng nhà của mình để tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Quốc T, Phạm Chí L1 và Vũ H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    1. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
      Xử phạt bị cáo Lê Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27/12/2023.
    2. Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
      Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/10/2023.
    3. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
      Xử phạt bị cáo Phạm Chí L1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/10/2023.
    4. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
      Xử phạt bị cáo Vũ H2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/10/2023.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bình ga mini đã qua sử dụng; 16 (mười sáu) hột quẹt ga các loại; 01 (một) bình nhựa nhỏ màu trắng, bên trên nắp có đục một lỗ nhỏ (được niêm phong theo quy định); 04 (bốn) ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa được cắt ngắn.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Quốc T, Phạm Chí L1, Vũ H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lê Văn C, Nguyễn Quốc T, Phạm Chí L1, Vũ H2 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Thúy L3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C cùng Đp bị truy tố về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger