Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Cầm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Cái Lê Chính Đạo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trần Quân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 03/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trần Như C; tên gọi khác: Cu L; sinh ngày 12 tháng 10 năm 1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ làm giày; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Như V, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1967; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 23/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 14/2023/HSST(đã thi hành), tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 23/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2017/HSST (đã chấp hành án và đương nhiên được xoá án tích); ngày 25/5/2017, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền: 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 20/9/2017, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền: 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/01/2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Hồ Thị N, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Hồ Thị L1, sinh năm 2007. Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người đại diện hợp pháp: Chị Hồ Thị N, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  • + Anh Phan Viết D, sinh năm 2003. Địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  • + Anh Hoàng Anh T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Lê Thị D1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  • + Anh Trần Như N1, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/12/2023, Trần Như C đi đến khu vực ngã ba L, thuộc thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế rồi vào chỗ bán trứng vịt lộn của chị Hồ Thị N gọi hai quả trứng và ngồi ăn. Khi ăn trứng, Cao nhìn thấy chị N để chiếc máy tính bảng bên cạnh nên hỏi mượn để nhắn tin báo người thân đến chở về thì chị N đồng ý và đưa máy tính bảng cho Cao mượn. Mượn được máy, C đăng nhập vào tài khoản facebook và nhắn tin cho em trai là anh Trần Như N1 nhờ đến chở C về. Sau khi nhắn tin xong thì C nảy sinh ý định chiếm đoạt máy tính bảng của chị N để bán lấy tiền tiêu xài. Nhắn tin xong, C tiếp tục ngồi ăn trứng và chờ khoảng 10 phút sau thì thấy anh N1 điều khiển xe môtô đến nên C cầm máy tính bảng thu giấu vào người và bỏ đi bộ về phía anh N1. Khi C đi bộ được khoảng 10 mét thì chị N thấy vậy nên có nói “Đưa điện thoại cho chị chứ răng cầm điện thoại của chị đi luôn rứa”. Biết chị N đòi lại máy tính bảng nhưng C vẫn tiếp tục bỏ đi khoảng 20m và lên xe môtô nhờ anh N1 chở đến nhà của anh Hoàng A Tin ở thôn A, xã L, huyện P, còn N1 điều khiển xe đi về nhà. Sau khi gặp Tin, Cao nhờ anh T điều khiển xe môtô chở C đến cửa hàng Đ tại thôn C, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế gặp anh Phan Viết D cầm cố máy tính bảng với giá 500.000 đồng. Số tiền có được, Tin dùng 300.000 đồng mua bia và trứng vịt lộn rồi cùng C ăn nhậu, còn lại 200.000 đồng giao cho C.

Quá trình điều tra thu giữ máy tính bảng của chị Hồ Thị N đã bị chiếm đoạt (nhãn hiệu Masstel, số imei 350825610908077); 01 Phiếu sửa chữa có tên khách hàng là C do cửa hàng điện thoại di động Lê D1 phát hành.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 13/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt máy tính bảng nhãn hiệu Masstel nêu trên có trị giá là 2.900.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại chiếc máy tính bảng hiệu Masstel cho chủ sở hữu là chị Hồ Thị N. Chị N không yêu cầu bồi thường gì, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Trần Như C; đối với 01 phiếu sửa chữa có tên khách hàng là C, lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Trần Như C đã trả lại cho anh Phan Viết D số tiền 500.000 đồng bỏ ra cầm cố tài sản, anh D không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên Cáo trạng số: 19/CT-VKSPL ngày 02 tháng 4 năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Như C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (26/01/2024).

Ý kiến và lời nói sau cùng bị cáo Trần Như C: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại là chị Hồ Thị N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]Trên cơ sở lời khai của bị cáo và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

[2.1] Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02/12/2023 tại khu vực ngã ba L, thuộc thôn V, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Như C sau khi mượn chiếc máy tính bảng hiệu Masstel trị giá 2.900.000 đồng của chị Hồ Thị N để nhắn tin thì đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên cầm máy tính bảng bỏ đi, sau đó đem cầm cố cho anh Phan Viết D với số tiền 500.000 đồng sử dụng tiêu xài.

[2.2]Bị cáo đang có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi nêu trên. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ.

[3]Hành vi của bị cáo Trần Như C là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an tại địa phương nên bị cáo chịu trách nhiệm đối với hành vi mình gây ra.

[4]Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, thấy rằng:

[4.1]Bị cáo Trần Như C không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2]Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là: Bồi thường thiệt hại; phạm tội gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, theo quy định tại các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.3]Bị cáo có nhân thân xấu và đang có 01 tiền án (Bản án số 14/2023/HSST ngày 23/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế).

[5]Xét các căn cứ quyết định hình phạt thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện đang có 01 tiền án; nhiều lần bị Công an huyện P xử phạt hành chính đều về các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo là thanh niên, có đầy đủ sức khoẻ nhưng lười lao động nên đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân, bản thân bị cáo nhiều lần sử dụng trái phép chất ma tuý. Các hành vi nêu trên của bị cáo đã bị Toà án xét xử hình phạt tù và cơ quan Công an xử phạt hành chính. Tuy nhiên, bị cáo không thay đổi mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, điều đó thể hiện bị cáo rất xem thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo Trần Như C có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]Đối với Trần Như N1 điều khiển xe môtô 75K1-124.57 đến chở Trần Như C về thì không biết việc C vừa chiếm đoạt tài sản của chị Hồ Thị N, do đó không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh N1.

[7]Đối với anh Hoàng Anh T khi giúp Trần Như C đi cầm cố máy tính bảng và anh Phan Viết D khi nhận cầm cố tài sản đều không biết rõ nguồn gốc máy tính bảng do C phạm tội mà có, nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh T và anh D.

[8]Về trách nhiệm dân sự: Đối với bà Hồ Thị N đã nhận lại được tài sản; anh Phan Viết D đã nhận lại số tiền 500.000 đồng bỏ ra khi cầm cố tài sản; chị N và anh D không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại chiếc máy tính bảng hiệu Masstel cho chủ sở hữu là chị Hồ Thị N.

Đối với 01 phiếu sửa chữa có tên khách hàng là "Cao" cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[10]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Như C (tức Cu L) phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Như C 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (26/01/2024).

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử buộc bị cáo Trần Như C phải chịu 200.000 đồng.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T.T-Huế;
  • - Phòng PV-16 Công an tỉnh T.T-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lộc;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Phú Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lộc;
  • - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Đinh Xuân Cầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BAN AN TRAN NHU CAO
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger