TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 27 tháng 8 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Hồ Văn Hào
- 2. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Hồ Văn Thái- Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 15/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thái T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1984, tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thái H (đã chết) và con bà Trần Thị L (đã chết); Vợ Nguyễn Thị A, sinh năm: 1986 ( đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2012; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10 tháng 5 năm 2024, đến nay (có mặt).
- Bị hại:
+ Anh Nguyễn Công H1, sinh năm 1981
Trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Hữu M, sinh năm 1981
Trú tại: Xóm B, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Anh Bùi Hữu Gia H2, sinh năm 2006;
Trú tại: Làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp cho anh Bùi Hữu Gia H2: Ông Bùi Hữu Sơn
Trú tại: Làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+Anh Quang Văn H3, sinh năm 1984
Trú tại: Xóm D, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1975
Trú tại: Xóm T, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+Anh Trần Văn C, sinh năm 1992
Trú tại: Xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1967
Trú tại: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+Anh Bùi Hữu S, sinh năm 1977;
Trú tại: Làng C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
+ Anh Lang Văn T3, sinh năm 1993
Trú tại: Bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 04/5/2024 đến ngày 10/5/2024 Nguyễn Thái T đã thực hiện ba hành vi trộm cắp trên địa bàn thị xã T và huyện N, tỉnh Nghệ An, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 04/5/2024, Nguyễn Thái T đến quán Bi a của anh Nguyễn Văn T4 (thuộc xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) để chơi. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Thái T một mình đi ra phía trước quán thì phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave alpha, màu đen, BKS: 37X3-0768 của anh Bùi Hữu Gia H2 (trú tại Làng C, xã N, huyện N) đang dựng trước quán, chìa khoá đang cắm ở xe, Nguyễn Thái T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh không thấy ai để ý, Nguyễn Thái T lén lút tiếp cận chiếc xe mô tô và dắt ra ngoài rồi nổ máy và một mình điều khiển chiếc xe mô tô lên huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm nơi tiêu thụ. Khi T đi đến khu vực thuộc bản K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thái T thấy có một cửa hàng sửa chữa xe máy mang tên “Tuấn Quỳnh” của anh Lang Văn T3 (trú tại bản Kẻ Khoang, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Thái T đi vào và bán chiếc xe mô tô cho anh T3 với giá 2.000.000 đồng. Số tiền này Nguyễn Thái T đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết. Sau khi mua được chiếc mô tô trên, anh Lang Văn T3 đã bán lại cho một người đàn ông (anh T3 không biết tên, địa chỉ) với giá 2.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 8 giờ ngày 08/5/2024, Nguyễn Thái T một mình đi bộ trên đường N thuộc khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An để tìm việc làm thì phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, màu xanh đen, BKS: 37X1-4560 của anh Nguyễn Công H1 trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đang dựng bên đường, ổ khoá chiếc xe mô tô này không còn nguyên vẹn nên Nguyễn Thái T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh không thấy ai, Nguyễn Thái T đã lén lút tiếp cận chiếc xe mô tô rồi dùng chìa khoá nhà mình mở khoá nổ máy và điều khiển xe mô tô lên huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm nơi tiêu thụ, khi đi đến khu vực thuộc xóm D, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thái T thấy có một cửa hàng sữa chữa xe máy mang tên “Hùng Phượng” của anh Quang Văn H3 (trú tại xóm D, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Thái T đi vào và bán chiếc xe mô tô cho anh H3 với giá 1.800.000 đồng. Số tiền này Nguyễn Thái T đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết. Sau khi mua được chiếc xe mô tô trên, anh Quang Văn H3 đã bán lại cho anh Nguyễn Văn L1 (trú tại xóm T, xã Y, huyện Q, tỉnh Nghệ An) với giá 2.500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 7 giờ ngày 10/5/2024, Nguyễn Thái T đến quán B (N) thuộc xóm B, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An để hút thuốc lào. Trong lúc đang hút thuốc lào Nguyễn Thái T phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave alpha, màu xanh đen, BKS: 37L2-0421 của anh Nguyễn Hữu M trú tại xóm B, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An đang dựng trước quán, chìa khoá đang cắm ở xe, Nguyễn Thái T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài. Quan sát xung quanh không thấy ai để ý, Nguyễn Thái T lén lút tiếp cận chiếc xe mô tô rồi nổ máy, một mình điều khiển xe mô tô đi lên huyện Q, tỉnh Nghệ An để tìm nơi tiêu thụ, khi đi đến khu vực xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thái T thấy có một cửa hàng sửa chữa xe máy mang tên “Chất Hương” của anh Trần Văn C (trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Thái T đi vào và bán chiếc xe mô tô cho anh C với giá 1.100.000 đồng. Số tiền này Nguyễn Thái T đã tiêu xài mục đích cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản anh Nguyễn Hữu M đã đến Công an thị xã T để trình báo sự việc. Công an thị xã T đã tiến hành trích xuất Camera tại quán B (N ) và Camera giám sát an ninh để xác định đối tượng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/5/2024, Cơ quan CSĐT công an thị xã T đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thái T. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thái T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Căn cứ kết bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 15/5/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã T:
- - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, màu xanh đen, BKS: 37X1-4506, đã qua sử dụng (tại thời điểm xẩy ra sự việc ngày 08/5/2024) có trị giá là 2.300.000 đồng;
- - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, BKS: 37L2-0421, đã qua sử dụng (tại thời điểm xẩy ra sự việc ngày 10/5/2024) có trị giá là 2.200.000 đồng;
Căn cứ kết bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 06/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện N kết luận:
- - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, màu sơn đen bạc, BKS: 37X3-0768, đã qua sử dụng (tại thời điểm xẩy ra sự việc ngày 04/5/2024) có trị giá là 2.500.000 đồng;
Tổng tài sản mà bị cáo Nguyễn Thái T đã chiếm đoạt là 7.000.000₫
Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái T về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
Về Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 48 - BLHS; các Điều 584; 585; 586 và Điều 357 của BLDS: Buộc bị cáo Nguyễn Thái T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh Bùi Hữu Gia H2 số tiền 2.500.000đ ( Hai triệu năm trăm nghìn đồng);
Đối với anh H1, anh M đã nhận lại tài sản nay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm do đó đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn L1, anh Quang Văn H3, anh Lang Văn T3, anh Trần Văn C không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét;
Về vật chứng vụ án:
- - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, màu xanh đen, BKS: 37X1-4560;
- - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, BKS: 37L2-0421, đã qua sử dụng;
Ngày 20/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý trả lại cho chủ sở hữu hai chiếc xe mô tô trên nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo luật định.
Bị cáo nhất trí về tội danh, mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra cũng như vật chứng thu giữ được. Lời khai nhận tội của bị cáo còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Từ đó đã đủ sơ sở để xác định được trong thời gian từ ngày 04 tháng 5 năm 2024 đến ngày 10 tháng 5 năm 2024. Tại khu vực thị xã T và huyện N, tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Thái T đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sỡ hữu, lén lút thực hiện ba hành vi trộm cắp tài sản. Cụ Thể: Vụ thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ ngày 04/5/2024, tại quán Bi a của anh Nguyễn Văn T4 thuộc xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thái T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc xe mô tô của anh Bùi Hữu Gia H2. Trị giá chiếc xe mô tô Nguyễn Thái T chiếm đoạt là 2.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 8 giờ ngày 08/5/2024, tại khu vực đường N thuộc khối Q, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thái T đã lén lút lấy trộm 01 chiếc mô tô của anh Nguyễn Công H1. Trị giá chiếc xe máy Nguyễn Thái T đã chiếm đoạt là 2.300.000 đồng.
Vụ Thứ ba: Vào khoảng 7 giờ ngày 10/5/2024, tại quán B (N) thuộc xóm B, xã T, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Thái T đã lén lút lấy trộm của anh Nguyễn Hữu M 01 chiếc mô tô. Trị giá chiếc xe máy Nguyễn Thái T đã chiếm đoạt là 2.200.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản mà bị cáo T chiếm đoạt là 7.000.00₫ ( bảy triệu đồng). Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Thái T đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 – BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thái T thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản, gây bất bình trong xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự, ý thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng với bản chất lười lao động, ham chơi nhưng lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần có đường lối xử phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo thực hiện 3 hành vi trộm cắp tài sản, các hành vi đều có giá trị trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Tuy nhiên cũng xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Vì vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật hình sự. Tuy nhiên cần cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 - BLHS thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo chiếm đoạt 3 chiếc xe mô tô trị giá 7.000.000đ, anh Nguyễn Công H1 và anh Nguyễn Hữu M đều đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét;
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda - Wave alpha, màu đen, BKS: 37X3-0768 của anh Bùi Hữu S (trú tại Làng C, xã N, huyện N, Nghệ An; anh Bùi Hữu S cho con trai là anh Bùi Hữu Gia H2 mượn xe đi chơi và bị T trộm cắp) hiện nay chưa thu hồi được.
Bị hại anh Bùi Hữu Gia H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp của anh H2 là anh Bùi Hữu S yêu cầu bị cáo Nguyễn Thái T phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng);
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T cũng đồng ý bồi thường số tiền 2.500.000đ cho bị hại anh Bùi Hữu Gia H2 và người đại diện hợp pháp của anh H2 là anh Bùi Hữu S.
Vì vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh H2 số tiền 2.500.000₫ ( Hai triệu, năm trăm nghìn đồng);
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn L1, anh Quang Văn H3, anh Lang Văn T3, anh Trần Văn C, anh Nguyễn Trung T2 không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xem xét;
[8] Vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý trả lại cho anh Nguyễn Công H1 và Anh Nguyễn Hữu M theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ, tạm giam ngày 10 tháng 5 năm 2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 - BLHS; các Điều 584; 585; 586 và Điều 357 của BLDS.
Buộc bị cáo Nguyễn Thái T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh Bùi Hữu Gia H2 số tiền 2.500.000đ ( Hai triệu, năm trăm nghìn đồng);
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - BLTTHS; các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Thái T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Các bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại là anh Bùi Hữu S và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST Nguyễn Thai Trong - TCST
