|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày: 27 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kim Trung Dũng
Bà Lý Thị Thu Thúy
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Duy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
- Đoàn Phương T, sinh ngày 08/6/1980; tại N - Cần Thơ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu V, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Thanh L (chết) và con bà Trần Ngọc L1, sinh năm 1955; Vợ Phan Thị Ngọc C, sinh năm 1980; con 02 người (lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2005). Anh, chị, em ruột: 03 người (lớn sinh năm 1978, nhỏ sinh năm 1984).
- Tiền án: Không; tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Ngày 18/9/2002 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời gian 18 tháng.
- + Ngày 11/3/2011 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh thời gian 12 tháng.
- + Từ ngày 12/12/2013 đến ngày 12/3/2014 bị Ủy ban nhân dân phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý giáo dục tại xã, phường thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị can bị tạm giữ ngày 28/12/2023 đến ngày 03/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Phan Thị Ngọc C, sinh năm 1980. Nơi cư trú: khu vực 5, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, tại trước hẻm S, đường N thuộc khu V, phường I, thành phố V. Đội CSĐTTP về kinh tế và ma tuý và Công an phường I, thành phố V tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Đoàn Phương T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện bên trong túi áo khoác bên phải 02 (hai) bơm kim tiêm, trong túi áo sơ mi bên trái có 01 (một) gói thuốc lá hiệu Hero bên trong có 01 (một) bịch nylon, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) và 01 (một) đoạn ống hút màu xanh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); trong túi quần Jean phía trước bên phải có 02 (hai) đoạn ống hút, một đoạn màu vàng và một đoạn màu đỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 01-02).
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói thuốc lá hiệu Hero, bên trong có chứa 01 bịch nylon (bên trong bịch nylon có chứa chất bột màu trắng), 01 đoạn ống hút màu xanh (bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng), 02 đoạn ống hút, một đoạn màu đỏ và một đoạn màu vàng (bên trong có chứa chất bột màu trắng), tất cả được niêm phong trong cùng một túi niêm phong mã số PS3A-2030917.
- 02 (hai) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh tím, có nhiều vết trầy xước, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ đen, biển số 95B1-821.30, số máy E3T6E455945, số khung 1720LY072539, xe đã qua sử dụng (bút lục 01-03).
Tại Kết luận giám định số: 1210/KL-KTHS ngày 01/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
- Mẫu ký hiệu M1: Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu đỏ được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,03286 gam, loại Heroin (H).
- Mẫu ký hiệu M2: Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,03911 gam, loại Heroin (H).
- Mẫu ký hiệu M3.1: Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,86294 gam, loại Heroin (H).
- Mẫu ký hiệu M3.2: Tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,03654 gam, loại Methamphetamine (bút lục 16-17).
Trong quá trình điều tra Đoàn Phương T khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 28/12/2023, T từ nhà tại khu V, phường I, thành phố V điều khiển xe mô tô biển số 95B1-821.30 đi đến Công viên thành phố V, tỉnh Vĩnh Long gặp người bạn tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch), T đưa số tiền 2.300.000 đồng nhờ Đ đi mua ma túy H và ma túy đá nhằm mục đích sử dụng, còn T ngồi ở quán cà phê gần công viên đợi Đ. Khi có ma túy T cất giấu trong túi áo sơ mi phía trước, bên trái và điều khiển xe máy đi về đến Nhà T, đường A khu V, phường I, thành phố V để mua 02 ống bơm kim tiêm cất giấu trong túi áo khoác bên phải. Khi T điều khiển xe đi đến đầu hẻm C, đường N, thuộc khu V, phường I, thành phố V thì bị Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (bút lục 60-61).
Các vật chứng còn lại được nhập kho vật chứng thuộc Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vị Thanh để bảo quản và xử lý theo quy định.
Tại Bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSTPVT ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố bị can Đoàn Phương T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Phương T về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đoàn Phương T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 28/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Phương T phải nộp 200.000đồng.
Đối với người có tên Đ, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Phát biểu bào chữa của bị cáo Đoàn Phương T: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ngọc C trình bày: Bà C xin được nhận lại xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ đen, biển số 95B1-821.30.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định nội dung diễn biến sự việc:
- Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về hành vi phạm tội: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa có cơ sở xác định:
Vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 28/12/2023, tại trước hẻm S đường N, thuộc khu V, phường I, thành phố V, Đoàn Phương T bị Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố V bắt phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Căn cứ Kết luận giám định số: 95/KLGĐ-PC09(MT) ngày 26/12/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh H: Kết luận giám định ma tuý mà Đoàn Phương T tàng trữ có khối lượng là 1,97145 gam (gồm 1,93491 gam loại Heroin và 0,03654 gam loại Methamphetamine).
Xét, tại phiên tòa bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai của bị cáo T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố. Nhận thấy, bị cáo T có đủ năng lực hành vi và nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn đã đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo T tàng trữ hai chất ma túy là H và M, tuy nhiên khối lượng của chất ma túy H là 1,93491 gam và M1 là 0,03654 gam, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh truy tố bị cáo T theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
-
Tính chất, mức độ của hành vi và nhân thân: Tội phạm do bị cáo T thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, gây tác hại xấu cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tù tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tiền án và tiền sự không có.
Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu, là người nghiện ma túy đã nhiều lần bị địa phương đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc và đang phải sử dụng thuốc Methadone để cai nghiện ma túy, nhưng bản thân lại tiếp tục tái nghiện. Hiện không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình có vợ và 02 con.
Từ những phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bản thân bị cáo T là người nghiện ma túy lâu năm, việc bị cáo cai nghiện ở ngoài không có kết quả nay lại phạm tội, tuy nhiên sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần có biện pháp ngăn chặn nên phải cách ly bị cáo khỏi cộng đồng với thời gian nhất định, nhằm giúp bị cáo có cơ hội cai nghiện, học tập cải tạo trở thành người công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Nên mức đề nghị 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh là phù hợp và đúng quy định pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao gói được niêm phong, bên ngoài ghi tên vụ asoos 1210/2023 ngày 01/01/2024; có 04 dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H; chữ ký của người chứng kiến Đặng Thị Phương L2 và chữ ký của Cơ quan điều tra Phạm Đăng K; bên trong vỏ bao gói được niêm phong; và 02 (hai) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
- Hoàn trả lại cho bị cáo T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh tím, có nhiều vết trầy xước, đã qua sử dụng. Do không chứng minh được điện thoại có liên quan dùng vào việc phạm tội.
- Hoàn trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị Ngọc C: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ đen, biển số 95B1-821.30, số máy E3T6E455945, số khung 1720LY072539, xe đã qua sử dụng. Do xe mô tô thuộc sở hữu của bà C, bà C không biết việc bị cáo T dùng xe đi mua ma túy về sử dụng.
- Về án phí: Buộc bị cáo Đoàn Phương T phải nộp 200.000đồng.
- Về phát biểu luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Phương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
-
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Phương T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Đoàn Phương T 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án. Thời gian tạm giam tính từ ngày tuyên án ngày 27 tháng 5 năm 2024.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về tang vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao gói được niêm phong, bên ngoài ghi tên vụ asoos 1210/2023 ngày 01/01/2024; có 04 dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh H; chữ ký của người chứng kiến Đặng Thị Phương L2 và chữ ký của Cơ quan điều tra Phạm Đăng K; bên trong vỏ bao gói được niêm phong; và 02 (hai) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng.
- Hoàn trả lại cho bị cáo Đoàn Phương T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh tím, có nhiều vết trầy xước, đã qua sử dụng.
- Hoàn trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị Ngọc C: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirus, màu đỏ đen, biển số 95B1-821.30, số máy E3T6E455945, số khung 1720LY072539, xe đã qua sử dụng.
-
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đoàn Phương T nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Đoàn Phương T và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Ngọc C được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phương |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XỬ PHẠT 01 NĂM 06 THÁNG TÙ
