Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt.

Bà Trần Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ THỊ LIÊN, sinh năm 1994; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn T, sinh năm 1966; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; Chồng: Chưa có. Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2014, co bé sinh năm 2018 Tiền án, tiền sự: Không.

Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023, hiện đang tạm giam tại trại giam S Công an T6. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo:

  1. Bà Nguyễn Minh T1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số B Q, phường Q, quận H, TP . Hà Nội;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Duy C, sinh năm 1982; (Vắng mặt);

Địa chỉ: Số I Chùa T, phường S, thị xã S, TP . Hà Nội;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua mạng xã hội, Lê Thị L, sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc có quen biết với một người phụ nữ tên là H1 (hay còn gọi là T2) (L không rõ thông tin, lai lịch, địa chỉ của T2 ở đâu).

Trưa ngày 25/12/2023, T2 có sử dụng số điện thoại 0365.773.xxx gọi vào số điện thoại 0378.040.xxx của L, hẹn L qua S để chơi. L đi xe ôm tới gặp T2 tại phường S, thị xã S. T2 đưa L tới thuê phòng 203 nhà nghỉ N1 tại ngõ B, phố C, phường S, S, Hà Nội để nghỉ ngơi. Tại đây, T2 có hỏi mượn điện thoại của L để gọi bạn của T2 (sau này kiểm tra điện thoại xác định số 0344.540.xxx). L có nghe T2 nói qua điện thoại với bạn T2 là “đang ở đâu đấy, tôi T2 đây, lấy cho tôi một ít”. L không biết đầu dây bên kia nói gì nhưng khi T2 đi ra thì T2 đã tắt điện thoại và để ở giường. Một lúc sau, điện thoại của T2 đồ chuông. T2 nghe điện thoại và bào L xuống gặp một người nam giới dưới cửa nhà nghỉ để lấy đồ cho T2. Tại đây, L có gặp 1 người đàn ông có đặc điểm đeo khẩu trang, không rõ độ tuổi. Người đàn ông đưa cho L 01 chiếc khẩu trang. L cầm và mang lên phòng cho T2. Khoảng 30 phút sau, T2 mở chiếc khẩu trang mà L vừa mang lên ra thì có một viên nén màu hồng. Sau đó, T2 chia thành viên nén màu hồng thành 2 phần, T2 lấy ra một chai nhựa có vòi, một mảnh giấy bạc và bật lửa rồi T2 và L cùng sử dụng ½ viên L nhận thức được đây là ma túy nhưng không biết là loại ma túy gì. Còn ½ viên T2 cất dưới kệ ti vi trong phòng 203 của nhà nghỉ N1.

Đến khoảng cuối giờ chiều cùng ngày, L nhận được điện thoại lạ 0389.173.xxx (sau này xác định là Nguyễn Duy C) gọi đến số điện thoại của L muốn mua 1 viên ma túy ngựa. Trong điện thoại, C hỏi “có hàng không, để cho em một ít” (ý là có ma túy ngựa không để cho C một ít). Do L biết trước đỏ T2 đã mua ma túy ngựa của một nam giới lạ mặt nên L đã hỏi lại T2 và T2 nói với L trả lời với C "sáng mai mới có” và L có đã trả lời C như vậy, rồi hẹn C đến để xem mặt mục đích biết C là ai để sáng hôm sau còn giao hàng cho C. Tối cùng ngày, C nhắn tin cho L “chị nhớ để cho em một ít nhé". L điện thoại cho C thì không nghe và C tiếp tục nhắn tin cho L “em đang ở nhà không tiện nghe", L nhắn tin là "ok".

Khoảng 8 giờ 00 phút sáng ngày 26/12/2023, C điện thoại cho L và hỏi “có hàng chưa chị”. L trả lời là “có rồi, đến đi”. Khi C đến trước cửa nhà nghỉ có nháy máy điện thoại của L và L nói với T2 là C đến lấy hàng. Lúc này, T2 đưa cho L 01 gói nilon màu trắng chứa ½ viên nén màu hồng là ma túy tổng hợp ngựa. L đi

xuống khu đất trống cạnh nhà nghỉ Ngọc T3 gặp C và C đưa cho L số tiền 200.000 đồng, L đưa cho C gói nilon màu trắng có chứa 1/2 viên ma túy tổng hợp và cất số tiền 200.000 đồng vào túi quần bên phải và ngồi xuống. Đúng lúc này, tổ công tác Công an phường S đi tuần tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng, đưa đối tượng Lê Thị L và Nguyễn Duy C về trụ sở Công an phường S để tiếp tục điều tra xác minh làm rõ.

Thu giữ vật chứng gồm:

- Thu giữ của Lê Thị L:

  • Số tiền 200.000 đồng thu trong túi quần trước bên phải L đang mặc. L khai nhận đây là số tiền bán ma túy cho Nguyễn Duy C;
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo vỏ màu xanh ốp màu đen đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0378040973;

- Thu giữ của Nguyễn Duy C:

  • 01 gói nilon màu trắng, bên trong đựng 01 nửa viên nén màu hồng thu tại tay trái của Nguyễn Duy C có kích thước 2x2cm. C khai nhận đấy là ma túy tổng hợp mua được của L với giá 200.000 đồng
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia loại bàn phím màu đen, bên trong có chứa sim số 0389173793.

Ngày 26/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K - Công an T6 giám định đối với 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa một nửa viên nén màu hồng đã thu giữ.

Tại bản kết luận giám định số 56/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K - Công an T6, kết luận:

"01 nửa viên nén màu hồng bên trong 01 gói nilon màu trắng là ma túy loại Methemphetamine, khối lượng 0,052 gam".

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lê Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Đối với Nguyễn Duy C là người mua ma túy của Lê Thị L ngày 26/12/2023. Xét thấy Nguyễn Duy C có 03 tiền án về ma túy đều đã được xoá án tích, hành vì Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 26/12/2024 khối lượng ma túy C tàng trữ là 0,052 gam không đủ để xử lý hình sự. Công an T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Duy C bằng hình thức phạt tiền 3.500.000₫ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với người phụ nữ tên H1 hoặc T2 khoảng 33 tuổi sử dụng số điện thoại 0365.773.xxx mà L đã khai nhận do L không biết rõ tên tuổi địa chỉ là gì nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ. Tập đoàn V đã có công văn trả lời số điện thoại 0365.773.xxx có chủ đăng ký thuê bao là bà Trịnh Thị T4, SN: 1959, HKTT: Thôn H, xã T, Đ, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ghi lời khai bà Trịnh Thị T4 kết quả bà T4 không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0365.773.xxx, việc Lê Thị L có hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý bà T4 không biết và cũng không tham gia, bà T4 cũng không quen biết ai tên H1 hoặc T2 nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Thị L nhận dạng kết quả bà Trịnh Thị T4 không phải người tên H1 hoặc T2 mà L đã trình bày. Vì vậy cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý đối với bà Trịnh Thị T4 và không có căn cứ để xác minh thêm về người có tên H1 hoặc T2.

Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0344.540.xxx đã mang 01 viên ma túy tổng hợp đến trước cửa nhà nghỉ N1 cho Lê Thị L do L không quen biết người nam giới này, không biết tên, tuổi, địa chỉ anh ta ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ. Tập đoàn V đã có công văn trả lời số điện thoại 0344.540.xxx có chủ đăng ký thuê bao là chị Đặng Thị T5, SN: 1982, HKTT: Đăng Đỗi, Trường M, N, Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ghi lời khai của chị Đặng Thị T5 kết quả chị T5 không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0344.540.xxx, việc Lê Thị L có hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý chị T5 không biết và cũng không tham gia, chị T5 cũng không quen biết ai tên H1 hoặc T2 nêu trên nên cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý đối với chị Đặng Thị T5 nên HĐXX không xem xét

Đối với nhà nghỉ N1, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với quản lý nhà nghỉ và rà soát camera. Tuy nhiên, hệ thống camera đã bị hư hỏng vì vậy không ghi nhận được thông tin dữ liệu gì trong ngày 25 và 26/12/2023. Lê Thị L khai nhận có sử dụng chất ma tuý trong nhà nghỉ, nhưng quản lý nhà nghỉ hoàn toàn không biết vì vậy cơ quan điều tra không đề nghị xử lý gì nên HĐXX không xem xét.

Vật chứng vụ án:

  • 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS - C1 bên ngoài có chữ kí của đối tượng Lê Thị L; Nguyễn Duy C; Cán bộ Công an phường S Nguyễn Ngọc Q, Giám định viên Phạm Trần N.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp sim số 0389173793, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, ốp màu đen, bên trong lắp sim số 0378040973 điện thoại cũ đã qua sử dụng.
  • Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Tất cả các vật chứng trên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS ngày 03/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây đã truy tố bị cáo Lê Thị L ra trước Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây để xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. Lê Thị L ăn năn về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm được trở về lao động hòa nhập xã hội. Người bào chữa có văn bản trình bày quan điểm: Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên việc truy tố bị cáo là đúng. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bị cóa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là hộ nghèo, lao động chính nuôi 03 con nhỏ. Đề nghị miễn án phí cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Thị L đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, khoản s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt Lê Thị Liên từ 24 đến 30 tháng tù;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS - C1 bên ngoài có chữ kí của đối tượng Lê Thị L; Nguyễn Duy C; Cán bộ Công an phường S Nguyễn Ngọc Q, Giám định viên Phạm Trần N.

Tịch thu sung quỹ nhà nước : 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp sim số 0389173793, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, ốp màu đen, bên trong lắp sim số 0378040973 điện thoại cũ đã qua sử dụng; Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thị L nhận thấy:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng gần 09 giờ sáng ngày 26/12/2023, tại khu đất trống cạnh nhà nghỉ N1 thuộc ngõ B, phố C, phường S, thị xã S, TP ., Lê Thị L đã có hành vi bán trái phép 0.052 gamma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Duy C với giá 200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Thị Liên p vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố bị cáo Lê Thị L là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Nguyễn Duy C là người mua ma túy của Lê Thị L ngày 26/12/2023. Xét thấy Nguyễn Duy C có 03 tiền án về ma túy đều đã được xoá án tích, hành vì Tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 26/12/2024 khối lượng ma túy C tàng trữ là 0,052 gam không đủ để xử lý hình sự. Công an T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Duy C bằng hình thức phạt tiền 3.500.000₫ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng quy định nên HĐXX không xem xét.

Đối với người phụ nữ tên H1 hoặc T2 khoảng 33 tuổi sử dụng số điện thoại 0365.773.xxx mà L đã khai nhận do L không biết rõ tên tuổi địa chỉ là gì nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ. Tập đoàn V đã có công văn trả lời số điện thoại 0365.773.xxx có chủ đăng ký thuê bao là bà Trịnh Thị T4, SN: 1959, HKTT: Thôn H, xã T, Đ, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ghi lời khai bà Trịnh Thị T4 kết quả bà T4 không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0365.773.xxx, việc Lê Thị L có hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý bà T4 không biết và cũng không tham gia, bà T4 cũng không quen biết ai tên H1 hoặc T2 nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Lê Thị L nhận dạng kết quả bà Trịnh Thị T4 không phải người tên H1 hoặc T2 mà L đã trình bày. Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý đối với bà Trịnh Thị T4 và không có căn cứ để xác minh thêm về người có tên H1 hoặc T2 nên HĐXX không xem xét.

Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0344.540.xxx đã mang 01 viên ma túy tổng hợp đến trước cửa nhà nghỉ N1 cho Lê Thị L do L không quen biết người nam giới này, không biết tên, tuổi, địa chỉ anh ta ở đâu nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ. Tập đoàn V đã có công văn trả lời số điện thoại 0344.540.xxx có chủ đăng ký thuê bao là chị Đặng Thị T5, SN: 1982, HKTT: Đăng Đỗi, Trường M, N, Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ghi lời khai của chị Đặng Thị T5 kết quả chị T5 không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0344.540.xxx, việc Lê Thị L có hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý chị T5 không biết và cũng không tham gia, chị T5 cũng không quen biết ai tên H1 hoặc T2 nêu trên, cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý đối với chị Đặng Thị T5 nên HĐXX không xem xét

Đối với nhà nghỉ N1, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với quản lý nhà nghỉ và rà soát camera. Tuy nhiên, hệ thống camera đã bị hư hỏng vì vậy không ghi nhận được thông tin dữ liệu gì trong ngày 25 và 26/12/2023. Lê Thị L khai nhận có sử dụng chất ma tuý trong nhà nghỉ, nhưng quản lý nhà nghỉ hoàn toàn không biết vì vậy cơ quan điều tra không đề nghị xử lý gì nên HĐXX không xem xét.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, có năng lực pháp luật hình sự đầy đủ nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng, cải tạo bị cáo có ý thức chấp hành tốt pháp luật và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh khó khăn (đông con nhỏ, thuộc trường hợp hộ nghèo) nên HĐXX áp dụng quy định khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lê Thị L không có tài sản riêng, không có công việc, thu nhập ổn định, thuộc trường hợp hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với ma túy bên trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS - C1 bên ngoài có chữ kí của đối tượng Lê Thị L; Nguyễn Duy C; Cán bộ Công an phường S Nguyễn Ngọc Q, Giám định viên Phạm Trần N là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp sim số 0389173793, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, ốp màu đen, bên trong lắp sim số 0378040973 điện thoại cũ đã qua sử dụng; Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) là công cụ, phương tiện bị cáo và đối tượng sử dụng để liên lạc, mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Về án phí: Do bị cao thuộc trường hợp hộ nghèo nên HĐXX áp dụng điểm đ khoan 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị L phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Thị L: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 26/12/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Ma túy bên trong 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của Phòng KTHS - C1 bên ngoài có chữ kí của đối tượng Lê Thị L; Nguyễn Duy C; Cán bộ Công an phường S Nguyễn Ngọc Q, Giám định viên Phạm Trần N.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp sim số 0389173793, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, ốp màu đen, bên trong lắp sim số 0378040973 điện thoại cũ đã qua sử dụng; Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

(Theo Ủy nhiệm chi số 30 ngày 09/4/2024 của Công an thị xã S nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, TP . tại Kho bạc Nhà nước thị xã S; Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 05 tháng 4 năm 2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án hình sự Công an thị xã S)

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoan 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Thị L.

3. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ. Viện Kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện KSND TX Sơn Tây;
  • - Công an TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hoàng Đức Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bc L mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger