Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4-2024

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Trang và ông Nguyễn Văn Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 402/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thúy H, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số F, tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thúy H trình bày:

Năm 2023, bà H và ông Đ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Nay bà H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Đ. Về con chung, có 02 con chung Lê Văn V, sinh ngày 09/3/2004 (đã trưởng thành) và Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013; bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Lê Thị Như Ý1, không yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ không cung cấp lời lời khai.

Lê Thúy H và ông Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau vào năm 2023 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không tiến hành hòa giải về quan hệ hôn nhân. Tòa án tiến hành hòa giải về con chung, tài sản chung và nợ chung nhưng ông Đ vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, chủ tọa công bố bản tự khai của nguyên đơn, biên bản ghi lời khai của cháu Lê Văn V, Lê Ngọc Như Y và biên bản xác minh tình trạng đăng ký kết hôn của đương sự.

* Phát biểu của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, có cơ sở xác định, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2003, không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, không công nhận nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng. Về con chung: giao con chung Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013 cho bà H tiếp tục nuôi dạy; về cấp dương nuôi con chung bà H không yêu cầu nên không đề cập xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự khai không có, không yêu cầu nên không đề cập xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ. Ông Đ có nơi cư trú trên địa bàn thành phố C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn như theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

Tòa án tiến hành xác minh tại nơi các đương sự đăng ký hộ khẩu thường trú về việc đăng ký kết hôn. Kết quả giấy xác minh của Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An GiangỦy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang đều có nội dung: ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thúy H không có đăng ký kết hôn.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng”.

Tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng”.

Căn cứ vào kết quả xác minh nêu trên có đủ cơ sở xác định, ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thúy H sống chung với nhau từ năm 2003, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét, không công nhận ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thúy H là vợ chồng.

[3] Về con chung: có 02 con chung Lê Văn V, sinh ngày 09/3/2004 (đã trưởng thành) và Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013 cho đến khi trưởng thành; không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Xét, con chung hiện cùng sống chung với bà H, bà H trực tiếp chăm sóc. Cuộc sống cháu đã ổn định, bà H có yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Ý. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013. Bà H không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Lê Thúy H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[4] Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:Lê Thúy H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp; ông Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Lê Thúy H và ông Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.
  2. Về con chung: có 02 con chung Lê Văn V, sinh ngày 09/3/2004 (đã trưởng thành) và Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013. Bà H được nuôi dạy con chung Lê Ngọc Như Ý, sinh ngày 14/3/2013 cho đến tuổi trưởng thành; ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Lê Thúy H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

    Lê Thúy H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003060 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà H đã nộp đủ án phí.

    Ông Nguyễn Văn Đ không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình.

  5. Thời hạn kháng cáo của bà Lê Thúy H và ông Nguyễn Văn Đ là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger