|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 4 năm 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thu Vân và ông Võ Lâm Sơn.
Thư ký phiên toà: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 30/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Vủ T (tên gọi khác: Huỳnh Vũ T1, N), sinh năm 1994; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Huỳnh Văn N (Nắng) và bà Lê Thanh T2; vợ, con: chưa; tiền án: Ngày 01/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 03 (Ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 25/4/2022, đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm, chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 6.055.600 đồng (theo giấy xác nhận kết quả thi hành án số 45/GXN-CCTHADS ngày 14/7/2023), tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A; có mặt.
Bị hại: Ông Trần Công P, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Lê Minh T3, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
- Anh Bùi Hoàng M, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt;
- Anh Trần Văn Bình E, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt;
- Ông Dương Văn N1, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
- Ông Lê Phước L, sinh năm 1949; địa chỉ: ấp Đ, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt;
- Anh Lê Tấn L1, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt;
- Ông Lê Quốc T4, sinh năm 1983; địa chỉ: ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt;
- Ông Ngô Bá N2, sinh năm 1952; địa chỉ: khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt;
Người làm chứng: Anh Dương Văn T5; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/5/2023, Huỳnh Vủ T, Lê Minh T3, Bùi Hoàng M và Trần Văn B Em sau khi sử dụng ma túy, cùng nhau bàn bạc đi bắt ốc bưu để bán lấy tiền, thì cả nhóm đồng ý; Bình E điều khiển xe mô tô biển số 66P1-831.48, còn M điều khiển xe mô tô biển số 67FD-5254 chở T3 về nhà B và M lấy vợt, đèn pin, túi lưới, giỏ xách, riêng T đã mang theo sẵn 01 dùi cui điện, 01 bình xịt hơi cay; khoảng 00 giờ 30 phút cả nhóm đi đến khu vực ấp T, xã M, huyện C, thì T, M nảy sinh ý định bắt trộm ốc tại ao của ông Trần Công P, nên cả hai vào ao bắt ốc, còn Bình E, T3 đi bắt ốc tại các mương nước công cộng bên ngoài; đến khoảng 01 giờ cùng ngày thì P, Dương Văn N1, Dương Văn T5 phát hiện có người bắt ốc trong ao nên tri hô nên T, M bỏ chạy, P, N1 và T5 đuổi theo giữ được M dẫn ra đường mòn, lúc này T chạy đến dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt N1, chích roi điện vào tay trái N1 mục đích giải vây cho M, nhưng không giải vây được nên bị N1, P khống chế giữ lại. Khi thấy T, M bị bắt, T3, Bình E đang bắt ốc ở khu vực khác cùng chạy đến nhằm giải vây cho T, M, T3 cầm theo 01 đoạn gỗ đánh 01 cái từ phải qua trái đúng vào lưng của P gây thương tích, thấy có nhiều người tới nên T3, Bình E sợ cùng chạy trốn. Sau khi sự việc xảy ra, T, T3 đều bỏ trốn nên bị cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã, đến ngày 18/11/2023 T ra đầu thú, còn T3 ra đầu thú ngày 22/11/2023.
Đối với hành vi của T3 do bị hại ông Trần Công P làm đơn bãi nại, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định đình chỉ điều tra đối với hành vi “Cố ý gây thương tích” của T3.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô biển số 66P1-831.48 đã giao trả cho Lê Tấn L1, 4,4kg ốc bưu đen đã giao trả cho Trần Công P; 01 xe mô tô biển số 67FD-5254; 01 dùi cui điện hiệu 928 TYPE; 01 bình xịt hơi cay; 01 cây kềm; 02 đèn pin; 02 giỏ sách nhựa; 01 túi lưới màu trắng; 01 đoạn gỗ dài 175cm; 01 đoạn gỗ dài 150cm; 01 đoạn gỗ dài 88cm, một đầu có quấn dây thun màu đen dài 08cm có gắn vợt lưới màu xanh; 01 đoạn cây trúc dài 2,17m, một đầu có quấn băng keo màu đen, gắn vợt bằng kim loại; 01 đoạn cây trúc dài 2,9m, một đầu có quấn dây thun màu đen, gắn vợt lưới màu xanh.
Kết luận định giá số 40 ngày 29/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 4,4kg ốc bưu đen có giá 220.000 đồng. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 604 ngày 18/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh A; kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương của Trần Công P do tất cả thương tích gây nên là 04%. Kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 605 ngày 18/8/2023 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh A; kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương của Dương Văn N1 do tất cả thương tích gây nên là 00%. Kết luận giám định số 55 ngày 22/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 dùi cui điện và 01 bình xịt hơi cay là công cụ hỗ trợ, vẫn còn sử dụng được. Sử dụng dùi cui điện tác động đến cơ thể người có thể gây tê liệt tạm thời; sử dụng bình xịt hơi cay tác động đến cơ thể người (xịt vào mặt) có thể gây chảy nước mắt, đau đớn, mù tạm thời. Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 22/6/2023 của Công an huyện C: Xe mô tô biển số 67FD-5254, số máy C50E6353248, số khung C506347450 do Ngô Bá N2 đứng tên; xe mô tô biển số 66P1-831.48, số máy HC09E6037833, số khung RLHHC09026Y037817 do Lê Quốc T4 đứng tên.
Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSCM ngày 11/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Huỳnh Vủ T (Huỳnh Vũ T1, N), về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Huỳnh Vủ T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Vủ T vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người làm chứng có mặt tại phiên tòa lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt, nhưng lời khai trong giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, cũng như phù hợp với Cáo trạng, không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Vủ T từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 dùi cui điện hiệu 928 TYPE; 01 bình xịt hơi cay; 01 cây kềm; 02 đèn pin; 02 giỏ sách nhựa; 01 túi lưới màu trắng; 01 đoạn gỗ dài 175cm; 01 đọan gỗ dài 150cm; 01 đoạn gỗ dài 88cm, một đầu có quấn dây thun màu đen dài 08cm có gắn vợt lưới màu xanh; 01 đoạn cây trúc dài 2,17m, một đầu có quấn băng keo màu đen, gắn vợt bằng kim loại; 01 đoạn cây trúc dài 2,9m, một đầu có quấn dây thun màu đen, gắn vợt lưới màu xanh; tịch thu sung quỹ nhà nước đối với xe mô tô biển số 67FD-5254 do Bùi Hoàng M dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 01 giờ 00 ngày 01/5/2023, bị cáo Huỳnh Vủ T cùng Bùi Hoàng M đã lén lút cùng thực hiện hành vi trộm cắp ốc trong ao của ông Trần Công P, gây thiệt hại về giá trị tài sản là 220.000 đồng, khi M bị ông P cùng một số người khác bắt, nhằm để cho M tẩu thoát, bị cáo T đã dùng các dụng cụ là công cụ hỗ trợ trái phép như: dùi cui điện, bình xịt hơi cay trích, xịt vào người khác nhưng không thực hiện được việc giúp M tẩu thoát và bị bắt phạm tội quả tang. Bị cáo T trước đó đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tính, nên hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau: Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ....., đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội ....., chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn, nhưng bị cáo đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố vụ án, nên cần phải xem xét mức hình phạt phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, bị cáo đã tự ra đầu thú khi biết bị truy nã. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có.
Xét thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, sau khi đã chấp hành hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo cần phải tu trí làm ăn, sửa đổi lỗi lầm để trở thành người công dân có ích, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải có một hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù cũng đủ để răn đe bị cáo, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản giá trị, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Đối với Lê Minh T3, quá trình điều tra bị hại đã rút yêu cầu xử lý hình sự, nên việc Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can đối với T3, Cáo trạng nêu trên không đề cập xem xét, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, quyết định. Đối với hành vi của Bùi Hoàng M, do M chưa có tiền án, tiền sự, cũng như việc M cùng T trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng, nên Cơ quan điều tra, Cáo trạng không đề cập xem xét, xử lý nên không đề cập xem xét, quyết định. Đối với hành vi sử dụng chất ma túy của bị cáo T, và của T3, M, B do không thu giữ được vật chứng, nên chuyển xử lý khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét, quyết định, cũng như các hành vi khác của bị cáo T nêu trong Cáo trạng, nhưng không đề nghị xử lý, nên không đề cập. xem xét, quyết định.
[7] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 66P1-831.48 Cơ quan điều tra đã giao trả cho Lê Tấn L1 và 4,4kg ốc bưu đen đã giao trả cho Trần Công P, nên không đề cập xem xét, quyết định. Đối với 01 xe mô tô biển số 67FD-5254, xác định Ngô Bá N2 đứng tên tài sản, nhưng đã bán qua nhiều người, Minh xác đ mua lại của người khác, đây là tài sản của M đang quản lý, sử dụng, M dùng vào việc thực hiện trộm cắp tài sản, do tài sản M trộm cắp không đủ định lượng, nên không xử lý Minh tội trộm cắp tài sản, nhưng M đã dùng xe để thực hiện hành vi tội phạm, nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 dùi cui điện hiệu 928 TYPE; 01 bình xịt hơi cay; 01 cây kềm; 02 đèn pin; 02 giỏ sách nhựa; 01 túi lưới màu trắng; 01 đoạn gỗ dài 175cm; 01 đoạn gỗ dài 150cm; 01 đoạn gỗ dài 88cm; 01 đoạn cây trúc dài 2,17m; 01 đoạn cây trúc dài 2,9m là các công cụ dùng để thực hiện tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024).
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Vủ T (Huỳnh Vũ T1, N) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Huỳnh Vủ T (Huỳnh Vũ T1, N) 07 (B1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/11/2023).
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển số 67FD-5254. Đối với 01 dùi cui điện hiệu 928 TYPE; 01 bình xịt hơi cay; 01 cây kềm; 02 đèn pin; 02 giỏ sách nhựa; 01 túi lưới màu trắng; 01 đoạn gỗ dài 175cm; 01 đoạn gỗ dài 150cm; 01 đoạn gỗ dài 88cm; 01 đoạn cây trúc dài 2,17m; 01 đoạn cây trúc dài 2,9m không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Huỳnh Vủ T (Huỳnh Vũ T1, N) phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trung Kiên |
7
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Các Hội thẩm nhân dân
|
Phạm Yến Nhi |
Lê Anh Duy |
Nguyễn Thanh Tân |
|
Thẩm phán |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
8
|
Lâm Thuận Tùng |
Đỗ Thế Bình |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T trộm cắp tài sản thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng chưa được xóa án tích
