|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày: 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đình Thủ;
2. Ông Nguyễn Văn Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Vào ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Trại giam C - Cục C1 – Bộ Công an Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tiến hành xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, Sinh năm: 1997; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Đăng ký HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Văn S (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị S1, sinh năm: 1975; Vợ; con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền án: Tại bản án số 49/2023/HS-ST ngày 08/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/7/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Theo lệnh trích xuất phạm nhân số: 19 ngày 11/01/2024 của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự- Bộ C từ Trại giam C đến Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Đội 22, phân trại số 1, trại giam C, C10 – Bộ C; người đại diện anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: khóm T, phường H, Tp C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
* Người làm chứng:
- - Diệp Minh Đ, sinh năm 1998; HKTT: khóm H, phường B, Tp S, tỉnh Đồng Tháp (hiện đang chấp hành án tại Trại giam C) (có mặt).
- - Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1997; HKTT: Khu phố B, TT C, huyện C, tỉnh Long An (hiện đang chấp hành án tại Trại giam C) (vắng mặt).
- - Đặng Hồ Anh K, sinh năm 2003; HKTT: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (hiện đang chấp hành án tại Trại giam C) (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1997, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại đội 22, phân trại số 1, trại giam C (Cục C1- Bộ C), thuộc ấp F, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Vào ngày 18/10/2023, Nguyễn Văn T được bố trí lao động tại khâu đan ghế nhựa cùng các phạm nhân của đội 22, thuộc phân trại số 1. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày sau khi lao động xong, T cùng các phạm nhân đội 22 nhập trại để về đội sinh hoạt. Sau khi ăn cơm xong, T đến khu vực vệ sinh để tắm, giặt. Lúc này, trời đang mưa và không có phạm nhân nào khác ở khu vực vệ sinh nên T nảy sinh ý định bỏ trốn, T leo ra khỏi khu vực hàng rào cấm, tiếp tục định leo qua hàng rào bảo vệ nhưng do hàng rào cao và phía trên có nhiều kẽm gai nên T không leo qua được. T thấy hố thu gom nước thải sinh hoạt phía trên có nắp đậy bằng bê tông (tấm dal) đồng thời nghe tiếng nước chảy phía dưới, T nghĩ thông qua đường thoát nước sẽ đi ra được bên ngoài nên chui xuống kéo nắp cống lại để tránh sự truy tìm và phát hiện của cán bộ quản giáo. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày cán bộ quản giáo tiến hành điểm danh, kiểm diện cho phạm nhân vào buồng thì phát hiện thiếu phạm nhân Nguyễn Văn T nên Phân trại báo động và tổ chức truy tìm. Đến khoảng 18 giờ 30 phút thì phát hiện Trường đang lẫn trốn dưới hố thu gom nước thải nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đồng thời chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C xử lý theo quy định pháp luật.
Cơ quan điều tra tạm giữ của Nguyễn Văn T: Áo thun màu xám, quần thun màu xám, có sọc đỏ.
Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Văn T không gây thiệt hại về tài sản của Trại giam C nên không xem xét xử lý.
Đối với Áo thun màu xám, quần thun màu xám, có sọc đỏ là tài sản cá nhân của Nguyễn Văn T nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành trao trả lại cho T.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSHCL ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trốn khỏi nơi giam”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Về xử lý vật chứng đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 20/CT-VKSHCL ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Chính bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện. T là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại đội 22, phân trại số 1, trại giam C (Cục C1- Bộ C). Vào khoảng 17 giờ ngày 18/10/2023 T lợi dụng lúc trời đang mưa và sự sơ hở của cán bộ quản giáo trốn khỏi khu vực hàng rào cấm với mục đích trốn trại thì bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Điều 386 Bộ luật Hình sự quy định:
“ 1. Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
”
[3] Xét hành vi của bị cáo: Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ giam giữ, gây cản trở, ảnh hưởng xấu đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và cơ quan thi hành án hình sự nói riêng, xâm phạm đến chế độ giam, giữ, cải tạo phạm nhân, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Chứng tỏ bị cáo rất xem thường và bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là cần thiết nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn T là người đã có tiền án, chưa được xóa án tích mà tiếp phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động, gia đình bị cáo khó khăn về kinh tế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì phù hợp theo quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Không có.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[9] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 38, 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HSST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng cộng bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, Sinh năm: 1997; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có tên gọi khác; Đăng ký HKTT: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Văn S (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị S1, sinh năm: 1975; Vợ; con: Chưa có; Gia đình có 02 anh, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền án: Tại bản án số 49/2023/HS-ST ngày 08/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/7/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (Theo lệnh trích xuất phạm nhân số: 19 ngày 11/01/2024 của Cơ quan quản lý thi hành án hình sự- Bộ C từ Trại giam C đến Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Đội 22, phân trại số 1, trại giam C, C10 – Bộ C; người đại diện anh Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: khóm T, phường H, Tp C, tỉnh Đồng Tháp.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 38, 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Tổng hợp hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2023/HSST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng cộng bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Không có.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Hội thẩm nhân dân (đã ký) Lê Đình T2 – Nguyễn Văn Chinh |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Huỳnh Trung D |
Để thi hành
Cao Lãnh, ngày 23 tháng 7 năm 2024
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
Thẩm phán
Huỳnh Trung D
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trốn khỏi nơi giam
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trốn khỏi nơi giam
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRON KHOI NOI GIAM
