Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 32/2024/HS - ST

Ngày: 25 - 4 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Duy Phu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toán

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Nhuần, bà Lê Thị V - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TL ST-HS ngày 06/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn Đ, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Trần Thị L, vợ Lê Thị H có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/3/2010, Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 33 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Ngày 05/4/2013, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 25/3/2015, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Ngày 25/9/2018, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Bị tạm giữ ngày 21/11/2023, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 30/11/2023 đến nay, (có mặt).

- Bị hại: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (vắng mặt);

- Người làm chứng:

  • Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963
  • Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957 (Đều vắng mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 21/11/2023, Bùi Văn Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, biển số 15B2-822.28 (mượn của anh Trần Quốc V1, sinh năm 1982, ở xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng) từ thôn L, xã N, huyện A đi trên đường Quốc lộ 5 đến huyện K, tỉnh Hải Dương. Khoảng 06 giờ 40 phút cùng ngày, khi đến địa phận thôn L, xã K, huyện K, Đ phát hiện bà Đỗ Thị M đang bán bánh mỳ ở khu vực chân cầu vượt số 9, sát lề đường Quốc lộ 5, trên cổ bà M có đeo 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, mặt dây chuyền bằng kim loại hình trái tim, bên trong có hình ổ khóa màu vàng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đ điều khiển xe qua vị trí bà M, rồi vòng quay lại vào đường gom bên trong gầm cầu vượt, đỗ xe rồi đi đến nói với bà M “Cô ơi cho cháu xin tý lửa”. Bà M đồng ý đưa bật lửa cho Đ. Sau khi châm lửa hút thuốc lá, Đ đưa lại bật lửa cho bà M và bảo “Cô làm cho cháu cái bánh mỳ”. Bà M quay mặt vào quầy bán hàng để làm bánh mỳ cho Đ. Đ tiến đến đứng phía sau lưng bà M, dùng tay trái ghì vào cổ bên trái bà M, tay phải vòng qua vai phải ra phía trước cầm giữ dây chuyền trên cổ bà M rồi giật làm dây chuyền bị đứt. Bà M liền gồng hai vai lên kẹp chặt vào tai để giữ dây chuyền, đồng thời cúi người dùng hai tay túm vào hai bên áo của Đ và hô "cướp, cướp". Đ không lấy được dây chuyền thì đẩy bà M ngã ngửa xuống đường, ngồi đè lên người bà M, tiếp tục cho tay vào cổ bà M để tìm dây chuyền. Bà M dùng hai tay giữ chân Đ. Lúc này, ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị L1 đi qua chứng kiến sự việc. Ông H1 vào cùng với bà M bắt giữ Đ, còn bà L1 hô “cướp, cướp”. Một số người dân đến hỗ trợ bắt giữ Đ. Lực lượng Công an xã K đến đưa Đ về trụ sở Công an xã K (cách đó khoảng 20m) và báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K biên bản bắt người phạm tội quả tang. Lực lượng Công an đã quản lý 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng bị đứt, đoạn đứt dài nhất cách ổ khóa 27cm, đoạn đứt ngắn nhất cách ổ khóa 20cm mắc ở áo bà M đang mặc; 01 mặt dây chuyền rơi trên nền đường tại vị trí bà M bị ngã và 01 xe mô tô biển số 15B2-822.28.

Tại Bản kết luận giám định số 23/KL-KTHS ngày 22/11/2023, Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng gửi giám định số khối lượng 2,7143 gam (quy đổi tương đương “0,72 chỉ”), là hợp kim của V2, B, Đ1K. Hàm lượng trung bình của V2 là 52,56%, B là 19,99%, Đ1 là 23,7% và K là 3,75%; 01 mặt dây chuyền bằng kim loại, hình trái tim, bên trong có hình ổ khóa, màu vàng gửi giám định có khối lượng 0,8013 gam (quy đổi tương đương “0,21 chỉ”), là hợp kim của V2, B, Đ1K. Hàm lượng trung bình của V2 là 56,85%, B là 10,20%, Đ1 là 29,37% và K là 3,58%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐG ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K kết luận: 01 sợi dây

2

chuyền nêu trên trị giá 2.320.000 đồng; 01 mặt dây chuyền nêu trên trị giá 680.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 3.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 04-3-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành truy tố Bùi Văn Đ về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành phân tích chứng cứ tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội Cướp tài sản.

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Bùi Văn Đ từ 4 năm tù đến 4 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ 21/11/2023.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại bị cáo 01 hộp nhựa màu xám trắng, kích thước (5x4)cm, bên trong có đựng 02 tai nghe B1 không dây bằng nhựa màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay điện tử màu đen, dây bằng nhựa màu hồng, dưới mặt đồng hồ có dán tem giấy màu tím “A HUY 93”; 01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, phía trên mặt trước bên trái điện thoại bị nứt vỡ, tại vị trí mắt camera bị bong mất vỏ bên ngoài, kích thước (3x2) cm, phía sau lưng điện thoại có ghi chữ “Letv”; 01 điện thoại di động cảm ứng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu bạc có ghi “Iphone S”, có ốp lưng bằng nhựa màu hồng, không xác định còn sử dụng được hay không; 01 dây sạc đồng hồ màu đen dài 20cm, 01 đầu sạc USB, 01 đầu đế sạc hình tròn, đường kính 0,5 cm; 01 vòng nhựa đeo cổ màu đen, dài 40cm, trên thân dây có bọc 04 đoạn bằng kim loại màu trắng, mỗi đoạn dài 1,5cm, hai đầu dây không có móc khóa chốt, trên dây có treo tượng hình “Di lặc” bằng đá, màu vân gỗ, bọc xung quanh bằng kim loại màu trắng; 01 túi hoa lưới màu đỏ, miệng túi màu vàng được thắt lại bằng sợi dây màu đỏ, kích thước túi (15x10)cm, bên trong có: 01 sợi dây vòng đeo cổ dài 70cm, dây có gắn các vòng hạt bằng gỗ hình tròn, giữa dây có gắn viên đá hình trụ màu vàng, kích thước (2x1,5)cm, 01 sợi dây màu đỏ có buộc 01 quả chuông cao 3,5cm, 01 sợi dây màu đỏ có buộc 01 viên đá hình tròn màu xanh (dạng đồng xu) đường kính 2cm và 01 áo khoác màu đen, cánh tay có sọc trắng, sau áo có dòng chữa PROSDVB, phía trên túi áo bên trái bị rách chiều dài 6,5cm, phần thân nách áo bên phải bị rách chiều dài 30cm.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

3

Bị cáo không có tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng mô tả, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ và có quan điểm đề nghị xét xử vụ án vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng hợp pháp.

[3]. Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về hành vi, thời gian, địa điểm, loại tài sản bị cáo chiếm đoạt, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 21/11/2023, tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Bùi Văn Đ có hành vi dùng tay túm giữ cổ, đẩy ngã và ngồi đè lên người bà Đỗ Thị M để chiếm đoạt của bà M 01 dây chuyền, mặt dây chuyền hình trái tim, bên trong có hình ổ khoá, đều bằng kim loại màu vàng, trị giá 3.000.000 đồng thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo Đ đã phạm tội:" Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý không tốt trong quần chúng nhân dân, cần có mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị kết án đã được xóa, không xem xét để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng thể hiện nhân thân xấu

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có bố đẻ có công với Cách mạng, được Nhà nước tặng Huy chương

4

kháng chiến hạng Nhì, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất hành vi, điều kiện kinh tế, nhân thân bị cáo, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 hộp nhựa màu xám trắng, kích thước (5x4)cm, bên trong có đựng 02 tai nghe B1 không dây bằng nhựa màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay điện tử màu đen, dây bằng nhựa màu hồng, dưới mặt đồng hồ có dán tem giấy màu tím “A HUY 93”; 01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, phía trên mặt trước bên trái điện thoại bị nứt vỡ, tại vị trí mắt camera bị bong mất vỏ bên ngoài, kích thước (3x2) cm, phía sau lưng điện thoại có ghi chữ “Letv”; 01 điện thoại di động cảm ứng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu bạc có ghi “Iphone S”, có ốp lưng bằng nhựa màu hồng, không xác định còn sử dụng được hay không; 01 dây sạc đồng hồ màu đen dài 20cm, 01 đầu sạc USB, 01 đầu đế sạc hình tròn, đường kính 0,5 cm; 01 vòng nhựa đeo cổ màu đen, dài 40cm, trên thân dây có bọc 04 đoạn bằng kim loại màu trắng, mỗi đoạn dài 1,5cm, hai đầu dây không có móc khóa chốt, trên dây có treo tượng hình “Di lặc” bằng đá, màu vân gỗ, bọc xung quanh bằng kim loại màu trắng; 01 túi hoa lưới màu đỏ, miệng túi màu vàng được thắt lại bằng sợi dây màu đỏ, kích thước túi (15x10)cm, bên trong có: 01 sợi dây vòng đeo cổ dài 70cm, dây có gắn các vòng hạt bằng gỗ hình tròn, giữa dây có gắn viên đá hình trụ màu vàng, kích thước (2x1,5)cm, 01 sợi dây màu đỏ có buộc 01 quả chuông cao 3,5cm, 01 sợi dây màu đỏ có buộc 01 viên đá hình tròn màu xanh (dạng đồng xu) đường kính 2cm và 01 áo khoác màu đen, cánh tay có sọc trắng, sau áo có dòng chữa PROSDVB, phía trên túi áo bên trái bị rách chiều dài 6,5cm, phần thân nách áo bên phải bị rách chiều dài 30cm. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

+ Đối với xe mô tô biển số 15B2-822.28, xác định là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Trần Quốc V1, anh V1 không không có lỗi trong việc để bị cáo sử dụng làm phương tiện đi cướp tài sản, Cơ quan điều tra Công an huyện K đã trả lại xe cho anh V1 là phù hợp.

[10]. Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.

[11]. Bị cáo Đ khai có sử dụng ma túy, nhưng không nhớ thời gian, địa điểm, người bán chất ma tuý, do đó không có căn cứ để xử lý.

5

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Luật phí, lệ phí năm 2015.

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Đ phạm tội "Cướp tài sản".

2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Đ 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 21/11/2023.

3. Về xử lý vật chứng:

Trả lại cho bị cáo 01 hộp nhựa màu xám trắng, kích thước (5x4)cm, bên trong có đựng 02 tai nghe B1 không dây bằng nhựa màu trắng; 01 đồng hồ đeo tay điện tử màu đen, dây bằng nhựa màu hồng, dưới mặt đồng hồ có dán tem giấy màu tím “A HUY 93”; 01 điện thoại di động cảm ứng màu hồng, phía trên mặt trước bên trái điện thoại bị nứt vỡ, tại vị trí mắt camera bị bong mất vỏ bên ngoài, kích thước (3x2) cm, phía sau lưng điện thoại có ghi chữ “Letv”; 01 điện thoại di động cảm ứng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu bạc có ghi “Iphone S”, có ốp lưng bằng nhựa màu hồng, không xác định còn sử dụng được hay không; 01 dây sạc đồng hồ màu đen dài 20cm, 01 đầu sạc USB, 01 đầu đế sạc hình tròn, đường kính 0,5 cm; 01 vòng nhựa đeo cổ màu đen, dài 40cm, trên thân dây có bọc 04 đoạn bằng kim loại màu trắng, mỗi đoạn dài 1,5cm, hai đầu dây không có móc khóa chốt, trên dây có treo tượng hình “Di lặc” bằng đá, màu vân gỗ, bọc xung quanh bằng kim loại màu trắng; 01 túi hoa lưới màu đỏ, miệng túi màu vàng được thắt lại bằng sợi dây màu đỏ, kích thước túi (15x10)cm, bên trong có: 01 sợi dây vòng đeo cổ dài 70cm, dây có gắn các vòng hạt bằng gỗ hình tròn, giữa dây có gắn viên đá hình trụ màu vàng, kích thước (2x1,5)cm, 01 sợi dây màu đỏ có buộc 01 quả chuông cao 3,5cm, 01 sợi dây màu đỏ có buộc 01 viên đá hình tròn màu xanh (dạng đồng xu) đường kính 2cm và 01 áo khoác màu đen, cánh tay có sọc trắng, sau áo có dòng chữa PROSDVB, phía trên túi áo bên trái bị rách chiều dài 6,5cm, phần thân nách áo bên phải bị rách chiều dài 30cm

(Tình trạng vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành).

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

6

[Nơi nhận:

- Sở tư pháp Hải Dương

- VKSND tỉnh Hải Dương;

- Cơ quan thi hành án hình sự, Công an tỉnh Hải Dương;

- Phòng hồ sơ, Công an tỉnh Hải Dương;

- VKSND huyện Kim Thành;

- Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Kim Thành;

- Bộ phận hồ sơ, nghiệp vụ Công an huyện Kim Thành

- Chi cục THA dân sự huyện Kim Thành;

- Bị cáo; bị hại;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Mạc Duy Phu

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS - ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 21/11/2023, tại thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, Bùi Văn Đ có hành vi dùng tay túm giữ cổ, đẩy ngã và ngồi đè lên người bà Đỗ Thị M để chiếm đoạt của bà M 01 dây chuyền, mặt dây chuyền hình trái tim, bên trong có hình ổ khoá, đều bằng kim loại màu vàng, trị giá 3.000.000 đồng thì bị bắt giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger