TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST. Ngày 24-5-2024. V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Lâm Thị Loan Em
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nguyệt Hân – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 02 năm 2023, về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15A/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QÐST-DS ngày 08/3/2024, số 35/2024/QÐST-DS ngày 25/3/2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 04/TB-TA ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn
- Ông Liêu S, sinh năm 1971. (Có mặt)
- Bà Sơn Thị Sà R, sinh năm 1975. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S và bà R: Ông Phạm Minh T, Luật sư Văn phòng Luật sư Phạm Minh T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S. (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Bà Thạch Thi V, sinh năm 1956 (có mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1996 – Là đại diện ủy quyền, theo hợp đồng ủy quyền ngày 13/7/2023, địa chỉ liên hệ: Ấp T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Liêu Thị G, sinh năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Quới, thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng
- Ông Liêu S1, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Liêu S2, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Liêu Thị Sà V1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Sơn H. (vắng mặt)
- Ông Sơn H1, sinh năm 1976. (vắng mặt)
- Bà Sơn Thị Hồng Đ. (vắng mặt)
- Bà Sơn Thị Hồng T1, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Ông Sơn D, sinh năm 1982 (vắng mặt)
- Ông Sơn B, sinh năm 1987 (vắng mặt)
- Ông Sơn L. (vắng mặt)
- Ông Sơn L1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
- Ông Dương N1, sinh năm 1950
Địa chỉ: ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Trầm Lài K, sinh năm 1956
Địa chỉ: ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Trương Thị H2, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 26/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Minh T, trình bày:
Vợ chồng bà Sơn Thị Sà R và ông Liêu S có một thửa đất ruộng tọa lạc ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nguồn gốc do mẹ ông Liêu S là bà Lâm Thị Q, sinh năm 1935 (chết năm 2018), ngụ ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cho vợ chồng Liêu S cách đây trên 30 năm. Thửa đất của vợ chồng Liêu S có một cạnh giáp ranh với thửa đất của ông Sơn M và bà Thạch Thị V2. Vợ chồng ông Liêu S canh tác đến năm 2002 thì vợ chồng ông Sơn M và bà Thạch Thị V2 lấn ranh chiều ngang 02m, chiều dài 36 tầm bồi đấp lên thành bờ để trồng cây Bạch Đ1, nên ông Liêu S mời ông Dương N1 (là Trưởng ban nhân dân ấp) và ông Trầm Lại K1 (là Tài chính) ấp X, đại diện chính quyền địa phương lúc bấy giờ đến chứng kiến sự việc ông Sơn M và bà Thạch Thị V2 lấn chiếm đất. Sau đó hai bên mới thỏa thuận lấy bờ đất trồng Bạch Đ1 để làm ranh đất, từ bờ Bạch Đằng trở vô trong là đất của bà V2, từ bờ Bạch Đằng trở ra hướng đường kênh sáng Nàng Rền là của ông Liêu S và ổn định sử dụng cho đến năm 2021 thì phía bà V2 lại tiếp tục mang trụ cậm làm ranh và lấn chiếm đất của vợ chồng ông Liêu S diện tích khoảng 1,5 công tầm cấy, vợ chồng ông Liêu S yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải buộc vợ chồng ông Sơn M, bà Thạch Thị V2 trả đất nhưng không thành.
Ông Liêu S và bà Sơn Thị Sà R yêu cầu Tòa án buộc bà Thạch Thị V2 giao trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 1,5 công tầm cấy (diện tích đo đạc thực tế 1.971,3m²), đất tọa lạc ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và bồi thường thiệt hại 02 vụ lúa tương đương số tiền 6.000.000 đồng.
Tại phiên tòa nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu bà Thạch Thị V2 giao trả phần đất từ mé bờ đất trồng Bạch Đằng trở ra giáp với hành lang Kênh Nàng Rền, không yêu cầu phần đất trồng Bạch Đằng và yêu cầu bị đơn bà Thạch Thị V2 bồi thường thiệt hại 02 vụ lúa tương đương số tiền 6.000.000 đồng.
- Nguyên đơn bà Sơn Thị Sà R, trình bày: Bà Thống nhất với lời trình bày của Luật sư, bà không có ý kiến khác.
- Nguyên đơn ông Liêu S, trình bày: Ông Thống nhất với lời trình bày của Luật sư, ông không có ý kiến khác.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà Thạch Thị V2 là ông Nguyễn Văn N, trình bày: Bà V2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đất tranh chấp thuộc thửa đất mà cha mẹ của bà V2 là ông Thạch L2 và bà Thạch Thị S3 cho bà V2 vào năm 1972, sau đó bà và chồng là ông Sơn M (đã chết) canh tác từ đó cho đến nay, trong quá trình canh tác đến năm 2021 thì bà V2 phát hiện phần đất mà cha mẹ bà cho bà sử dụng chưa đúng vị trí nên bà V2 đã tiến hành cắm cột đá lại để làm ranh. Đối với diện tích đất tranh chấp ban đầu phía bà V2 thống nhất là diện tích đo đạc thực tế 1.971,3m² (bao gồm cả diện tích bờ đất trồng B) nhưng tại phiên Tòa phía bị đơn chỉ đồng ý diện tích đất tranh chấp là từ mé bờ đất trồng Bạch Đằng trở ra giáp với hành lang kênh Nàng Rền. Đất tranh chấp hiện do bà V2 và con trai Sơn Lể đang canh tác, sử dụng.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Liêu Thị sà V3, trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2023: Nguồn gốc đất tranh chấp giữa ông Liêu S và bà V2 là của mẹ ruột Lâm Thị Q cho ông Liêu S từ rất lâu, không nhớ rõ cho năm nào nhưng ông S đã sử dụng từ lúc được cho cho tới khi tranh chấp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Liêu Thị G, trình bày: Bà là chị thứ hai của ông Liêu S, phần đất tranh chấp giữa Liêu S và bà V2 là của mẹ ruột của bà tên Lâm Thị Q cho Liêu S từ rất lâu có ông Dương N1, ông K1 biết, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của L, yêu cầu bà V2 trả lại đất tranh chấp.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Sơn H, ông Sơn L, ông Sơn H1, ông Sơn B, bà Sơn Thị Hồng T1 có cùng lời trình bày tại tờ tường trình cùng ngày 09/8/2023:
Về nguồn gốc đất: Gia đình của chúng tôi có khai hoang được một phần đất, tại ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng trồng lúa nước. Đến năm 1982 thì cha tôi là ông Sơn M có trồng cây Trăm Bầu, và cậm trụ đá để làm ranh. Chúng tôi sử dụng ổn định từ đó cho đến khi ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R tranh chấp. Hiện nay ông S, bà R khởi kiện yêu cầu trả lại phần đất diện tích 1,5 công tầm cấy và yêu cầu gia đình tôi phải bồi thường thiệt hại là 6.000.000 đồng. Đối với yêu cầu khởi kiện trên thì tôi hoàn toàn không đồng ý và yêu cầu Tòa án xem xét bác đơn khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S, bà R.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Sơn L1, trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 03/01/2024:
Ông là con trai của Sơn M và bà Thạch thị V4, phần đất tranh chấp hiện do ông đang canh tác cùng với bà Thạch Thị V2 khoảng 03 năm nay, trước đó phần đất do gia đình ông Liêu S canh tác, trong thời gian 03 năm canh tác tôi thu hoạch 03 được 03 vụ. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu tôi và mẹ trả lại phần đất tranh chấp thì tôi không có ý kiến gì, mẹ tôi ý kiến như thế nào thì tôi đồng ý theo mẹ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Sơn D, trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2024:
Ông là con trai của bà Thạch Thị V2, nguồn gốc đất tranh chấp là của bà ngoại cho mẹ ông từ rất lâu, mẹ ông chỉ mới canh tác năm 2021, ông về cất nhà ở đây từ năm 2009 thì thấy ông Liêu S canh tác phần đất tranh chấp đến năm 2021 thì mẹ ông phát hiện phần đất tranh chấp là của mẹ ông nên mẹ ông đã lấy lại canh tác nhưng cũng không có canh tác được do đó đất bỏ trống cho đến nay.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Sơn Thị Hồng Đ vắng mặt không có văn bản trình bày.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày quan điểm:
Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liêu S và bà Sơn Thị Sà R buộc bị đơn bà Thạch Thị V2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn L1 giao trả diện tích đất từ mé bờ ranh trồng Bạch Đằng trở ra giáp với hành lang kênh Nàng Rền. Căn cứ để nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại đất là lời khai của những người làm chứng tại phiên tòa ngày hôm nay là ông Dương N1, ông Trầm Lài K và lời khai của Trưởng Ban N2 (ông S1) đều xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Lâm Thị Q mẹ ruột ông Liêu S và ông Liêu S đã sử dụng ổn định từ rất lâu đồng thời tại Công văn số 504 ngày 17/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T trả lời thì “Thửa đất tranh chấp 174 do bà Lâm Thị Q đứng tên trong sổ mục kê và sổ đăng ký cấp giấy và thửa đất 174 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ số D 0831577 cho bà Lâm Thị Q, sinh năm 1935 và hiện thửa đất 174 nêu trên theo dữ liệu được lưu chưa có biến động về quyền sử dụng đất và chưa đăng ký thế chấp về quyền sử dụng đất”. Từ đó cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bà Thạch Thị V2 giao trả lại phần đất tranh chấp cho nguyên đơn có diện tích 1.971,3m² nhưng trừ lại diện tích đất của bờ đất trồng Bạch Đằng chỉ yêu cầu trả phần đất từ mé bờ Bạch Đằng trở ra tới giáp hành lang kênh Nàng Rền thuộc thửa số 174, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng và bồi thường thiệt hại 02 vụ lúa cho nguyên đơn số tiền 6.000.000 đồng do bị đơn chiếm sử dụng nên nguyên đơn không canh tác được.
Quan điểm kiểm sát của đại diện Viện kiểm sát như sau: Từ khi thụ lý đến khi kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa xét xử, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng với các quy định của pháp luật. Qua chứng cứ và kết quả tranh tụng tại tòa thì thấy phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Lâm Thị Q. Hiện nay bà Q đã chết thì cần công nhận diện tích đất tranh chấp cho những người thừa kế của bà Q gồm các ông, bà: Liêu Si, L, L, Liêu Thị G và Liêu Thị Sà V1. Bị đơn bà V2 thừa nhận sử dụng diện tích đất tranh chấp từ năm 2021. Việc bị đơn bà V2 chiếm giữ sử dụng phần đất tranh chấp là không hợp pháp, đất tranh chấp hiện do bà V2 và ông S2 Lể quản lý, canh tác nên bà V2 và ông L1 có trách nhiệm giao trả diện tích đất 1971,3m² nhưng trừ đi phần bờ đất trồng Bạch Đằng 178,6m² thuộc thửa 174, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cho những người thừa kế của bà Lâm Thị Q (Tạm giao cho ông Liêu S và bà Sơn Thị Sà R quản lý).
Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà V2 và bồi thường thiệt hại 02 vụ lúa tương đương số tiền 6.000.000 đồng. Nhận thấy do các bên tranh chấp nên phía bị đơn cũng không canh tác lúa mà bỏ đất trống. Tại biên bản xác minh ngày 26/7/2023 đối với ông Dương N1 trình bày “Hiện nay đất đã bỏ trống 03 vụ”. Nguyên đơn ông Liêu S cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng các đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tư cách tham gia tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu các bị đơn bà Thạch Thị V2, ông Sơn M có nghĩa vụ giao trả đất tranh chấp. Tuy nhiên tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện bị đơn ông Sơn M đã chết nên cần xác định lại bị đơn trong vụ án chỉ có bà Thạch Thị V2 nên và đưa các con của ông Sơn M và bà Thạch Thị V2 là ông Sơn D, ông Sơn H, ông Sơn L3, ông Sơn B, bà Sơn Thị Hồng Đ, bà Sơn Thị Hồng T1, ông Sơn L, ông Sơn H1 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 68 BLTTDS.
[2] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liêu S và bà Sơn Thị Sà R là tranh chấp dân sự về đất đai quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; đất tranh chấp tọa lạc tại ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị thụ lý, xét xử sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Liêu Thị Sà V1, ông Sơn D, ông Sơn H, ông Sơn L3, ông Sơn B, bà Sơn Thị Hồng Đ, bà Sơn Thị Hồng T1, ông Sơn L, ông Sơn H1, ông Liêu S1, ông Liêu S2 đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Người làm chứng bà Trương Thị H2 vắng mặt nhưng có cung cấp lời khai cho Tòa án. Căn cứ Điều 227; Điều 228 và Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự và người làm chứng nêu trên.
[3] Nguyên đơn ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R khởi kiện yêu cầu bà Thạch Thị V2 và ông Sơn L1 giao trả diện tích đất 1,5 công tầm cấy tọa lạc tại ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Qua kiểm tra phần đất tranh chấp thuộc thửa số 174, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chổ phần đất tranh chấp theo xác định của các bên thì thấy phần đất tranh chấp có diện tích thực đo là 2.279,6m². Tuy nhiên sau khi kiểm tra lại trên hệ thống quản lý sơ đồ địa chính của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện T thì diện tích đất tranh chấp tại thửa 174 chỉ còn lại 1.971,3m² do nhà nước giải phóng mặt bằng để nạo vét kênh Nàng Rền.
Tại phiên Tòa phía nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện đối với phần bờ đất trồng Bạch Đằng (diện tích 178,6m²), chỉ yêu cầu bị đơn giao trả phần đất từ mé bờ trồng Bạch Đ1 trở ra giáp với hành lang Kênh Nàng Rền. Theo như sơ đồ bảng vẽ ngày 29/02/2024 Chi nhánh VPĐK đất đai huyện T thì bờ đất trồng Bạch Đằng có diện tích 178,6m² nguyên đơn rút lại yêu cầu bị đơn giao trả diện tích đất này nên diện tích tranh chấp là 1.971,3m² – 178.6m²= 1.792,7m² là diện tích mà nguyên đơn yêu cầu bà V2 phải giao trả lại. Việc rút lại yêu cầu khởi kiện là phù hợp Điều 244 BLTTDS nên được HĐXX chấp nhận và Đình chỉ đối với yêu cầu này của nguyên đơn.
[4] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp 1.792,7m² thuộc thửa số 174 thì nguyên đơn trình bày là của mẹ ruột ông Liêu S là bà Lâm Thị Q cho ông Liêu S sử dụng khoảng 30 năm. Tại phiên tòa những người làm chứng ông N1, ông K cũng trình bày nguồn gốc đất là của bà Q mẹ ruột ông Liêu S cho ông Liêu S đã sử dụng từ rất lâu và theo Công văn số 504/CNTT ngày 17/10/2023 của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện T thì nguồn gốc đất thửa 174 là của bà Lâm Thị Q đứng tên trong sổ mục kê và sổ đăng ký cấp giấy và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lâm Thị Q, sinh năm 1935. Phía bị đơn bà Thạch Thị V2 cho rằng phần đất tranh chấp là của mẹ ruột bà Thạch Thị X cho nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh bà Thạch Thị X được quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất 174 và không cung cấp được giầy tờ, tài liệu chứng cứ chứng minh được tặng cho từ đó cho thấy phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Lâm Thị Q. Nguyên đơn cho rằng phần đất tranh chấp đã được bà Lâm Thị Q cho nhưng chưa thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất nên phần đất tranh chấp vẫn còn là di sản của bà Q, hiện nay bà Q đã chết thì cần công nhận diện tích đất tranh chấp cho những người thừa kế của bà Q gồm ông Liêu S, ông Liêu S2, ông Liêu S1, bà Liêu Thị G và bà Liêu Thị Sà V1. Bị đơn bà V2 thừa nhận sử dụng diện tích đất tranh chấp từ năm 2021. Việc bị đơn bà V2 chiếm giữ sử dụng phần đất tranh chấp là không hợp pháp, đất tranh chấp hiện do bà V2 và con trai tên Sơn L1 đang quản lý canh tác nên cần buộc bà V2 và ông L1 có trách nhiệm giao trả diện tích 1.792,7m² thuộc thửa 174, tờ bản đồ số 11 tọa lạc tại ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cho những người thừa kế của bà Lâm Thị Q. Nguyên đơn và những người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan là các chị, em của ông Liêu S là bà Liêu Thị G, bà Liêu Thị Sà V1 và người làm chứng ông Dương N1, ông K trình bày đất tranh chấp đã được bà Q cho ông Liêu S, tuy nhiên ông Liêu S hiện vẫn chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, vì vậy Hội đồng xét xử tạm giao cho vợ chồng ông Liêu S và vợ là bà Sơn Thị Sà R quản lý phần đất trên là phù hợp.
[5] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bà V2 bồi thường thiệt hại 02 vụ lúa tương đương số tiền 6.000.000 đồng. Theo biên bản xác minh ông Lâm Minh S4 trưởng ấp Xóm Tro 2 thì đất bỏ trống từ khi bà V2 chiếm sử dụng năm 2021 tới nay (BL 110) và tại phiên tòa người làm chứng ông Dương N1 trình bày đất tranh chấp cũng bỏ trống. Nguyên đơn ông Liêu S bà Sơn Thị sà R1 cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại. Do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Chi phí xem xét thẩm định, định giá: 8.541.238 đồng (Tám triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi tám đồng), do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Thạch Thị V2 phải chịu. Sau khi bà V2 nộp thì hoàn trả cho ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R số tiền này do ông S và bà R đã nộp tạm ứng trước. Hoàn trả cho ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R tiền tạm ứng chi phí tố tụng 1.458.762 đồng theo thông báo của Tòa án.
[7] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần không được Tòa án chấp nhận đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại 6.000.000 đồng (5% x 6.000.000 đồng = 300.000 đồng) bị đơn bà Thạch Thị V2 phải chịu án phí 300.000 đồng nhưng bị đơn bà V2 là người cao tuổi và nguyên đơn ông S, bà R là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận toàn bộ. Đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 166, Điều 651 Bộ luật dân sự; Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R đối với bị đơn bà Thạch Thị V2.
- - Công nhận diện tích đất 1.792,7m² tại thửa đất số 174, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng là tài sản của bà Lâm Thị Q chết để lại. Do bà Q đã chết nên công nhận cho người thừa kế của bà Q là ông Liêu S, ông Liêu S2, ông Liêu S1, bà Liêu Thị G và bà Liêu Thị Sà V1 được quyền sử dụng.
- - Buộc bị đơn bà Thạch Thị V2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn L1 phải có trách nhiệm giao trả lại cho ông Liêu S, ông Liêu S2, ông Liêu S1, bà Liêu Thị G, bà Liêu Thị Sà V1 diện tích 1.792,7m² thuộc thửa đất số 174, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Tạm giao cho nguyên đơn ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R quản lý phần diện tích đất trên. Đất có vị trí tứ cận như sau:
- + H: Giáp thửa 161, có số đo 3.67m + 113.59m
- + Hướng Tây: Giáp hành lang kênh nàng rền, có số đo 75.12m + 39.97m
- + Hướng Nam: Giáp thửa 48, có số đo 5.46m + 113.59m
- + Hướng Bắc: Giáp thửa 48, có số đo 4.81m + 19.54m
Tổng diện tích: 1.792,7m² (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền: 6.000.000 đồng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã rút đối với diện tích đất 178,6m² (Phần bờ đất trồng B).
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: 8.541.238 đồng, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, bị đơn bà Thạch Thị V2 phải chịu. Sau khi bà V2 nộp thì hoàn trả cho ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R số tiền này do ông S và bà R đã nộp tạm ứng trước. Hoàn trả cho ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R tiền tạm ứng chi phí tố tụng 1.458.762 đồng theo thông báo của Tòa án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Liêu S, bà Sơn Thị Sà R, bị đơn bà Thạch Thị V2 được miễn án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tuyết Kha |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Liêu S yêu cầu bà Thạch Thị V trả lại đất
