|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/DS - PT Ngày: 24-4-2024 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Ánh.
Các Thẩm phán: ông Tạ Duy Ước và ông Bùi Đức Thanh.
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Phan Hải – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 24 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2020/TLPT-DS ngày 13/02/2020, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST, ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện H (N là thành phố H), bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐ-PT ngày 25/3/2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐ-PT ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- - Anh Nguyễn Văn D sinh năm 1967, chị Lưu Tam H sinh năm 1979; đều trú tại: tổ G, khu I, phường C, TP H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
- - Chị Lưu Hải H1 sinh năm 1984; trú tại: tổ F, khu H, phường C, TP H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Lưu Tam H và chị Lưu Hải H1 là anh Nguyễn Văn D (Hợp đồng ủy quyền lập tại Văn phòng C1, thành phố H ngày 14/6/2019), có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn H2, sinh năm 1965: trú tại: thôn D, xã T, huyện H (N là thành phố H), tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Đỗ Văn H2 là bà Phạm Thị H3, sinh năm 1992; địa chỉ: khu C, phường M, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (Hợp đồng ủy quyền lập tại Văn phòng C2, thành phố H ngày 16/6/2020); có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1968 và chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; trú tại: thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; đều vắng mặt.
4. Người kháng cáo: anh Đỗ Văn H2 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, được bổ sung bằng các lời khai tiếp theo, và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H, chị Lưu Hải H1 đều khai:
Ngày 12/9/2013, gia đình anh D có nhận chuyển nhượng hơn 7,1 ha đất rừng tại thôn D, xã T, huyện H của vợ chồng anh, chị Đỗ Văn L - Nguyễn Thị T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 497703 do UBND huyện H cấp ngày 09/12/2009 và trên đất đã trồng khoảng 03ha cây keo và 04ha cây thông được khoảng 2 năm tuổi. Trong quá trình sử dụng đất gia đình phát hiện anh Đỗ Văn H2 (trú tại thôn D, xã T) đã lấn chiếm và sử dụng của gia đình khoảng hơn 3,5ha đất rừng trên.
Anh D khởi kiện yêu cầu anh Đỗ Văn H2 phải trả lại khoảng 03ha rừng mà anh H2 đang sử dụng trái phép.
Đề nghị anh H2 phải thanh toán lại cho anh giá trị của 03ha cây keo mà anh H2 đã khai thác năm 2017, giá trị khoảng 90.000.000đ.
Bị đơn là anh Đỗ Văn H2 có quan điểm trình bày: về phần đất rừng hiện nay đang tranh chấp với anh D là do anh khai phá và sử dụng từ những năm 2001. Đất rừng của anh giáp ranh với đất rừng của nhà anh, chị L- T và cùng khai hoang và sử dụng từ năm 2001 không có tranh chấp gì. Sau đó đến năm 2009 thì anh được nhà nước cấp bìa đỏ với diện tích 3,1ha nhưng thực tế sử dụng khoảng hơn 06ha, trong đó 3,1 ha được cấp bìa đỏ còn lại hơn 03ha không được cấp bìa đỏ, tuy nhiên ranh giới đất rừng giữa nhà anh H2 và nhà anh L, chị T vẫn cố định từ trước đến nay. Anh không biết việc anh L chị T bán đất rừng cho anh D như thế nào, diện tích bao nhiêu nhưng anh không lấn chiếm đất rừng của anh D nên anh không đồng ý trả đất cho anh D.
Về việc anh D đòi tiền anh đã bán hơn 03ha cây keo đang tranh chấp thì số cây keo này do anh trồng năm 2011, anh bán năm 2017, nên anh không nhất trí trả lại cho anh D. Và hiện nay trên phần đất đang tranh chấp với anh D, anh đang trồng cây keo non từ tháng 3/2018.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn L và chị Nguyễn Thị T cùng có quan điểm trình bày: vợ chồng anh, chị có một mảnh đất rừng do gia đình anh L khai hoang từ năm 2001, đến năm 2009 thì được UBND huyện H cấp bìa đỏ. Mảnh đất rừng này của vợ chồng anh chị giáp ranh với mảnh đất rừng của nhà anh Đỗ Văn H2.
Năm 2013, vợ chồng anh L có bán mảnh đất rừng này cho vợ chồng anh D, khi bán anh L có dẫn anh D đi chỉ ranh giới đất rừng của nhà anh L với nhà anh H2. Giữa vợ chồng anh L và anh D đã giao tiền, làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, nhưng thực sự anh L chỉ biết bán đất rừng cho anh D chứ anh Lưu k biết cụ thể là bao nhiêu ha, vì năm 2009, sau khi được cấp bìa đỏ anh L mang về tủ cất không để ý diện tích, còn nguồn gốc đất rừng là do gia đình anh L khai phá và sử dụng từ năm 2001 đến nay, và ranh giới đất rừng giữa nhà anh L và nhà anh H2 vẫn như cũ không hề có tranh chấp gì. Nay anh D kiện đòi đất anh H2 thì vợ chồng anh L đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Còn về số cây keo trồng trên diện tích đất đang tranh chấp từ trước đến nay là do anh H2 trồng chứ không phải do gia đình anh L trồng.
Với nội dung trên tại bản án dân sự sơ thẩm số 11/2020/DS-ST ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, xử:
Căn cứ: khoản 9 Điều 26; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 33, khoản 1 điều 49 Luật đất đai năm 2003; điều 99, khoản 1 điều 203 Luật đất đai năm 2014.
Tuyên xử:
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H và chị Lưu Hải H1.
Buộc anh Đỗ Văn H2 phải trả lại cho anh Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H và chị Lưu Hải H1 quyền sử dụng 35.967,4m² đất rừng sản xuất, tại thôn D, xã T, huyện H (phần đất rừng này đã được UBND huyện H giao cho gia đình anh Đỗ Văn L, chị Nguyễn Thị T theo số bìa đỏ AP 497703 ngày 09/12/2009, chuyển nhượng cho gia đình anh D ngày 12/9/2013). Anh Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H và chị Lưu Hải H1 được quyền sở hữu toàn bộ số cây keo đang trồng trên diện tích đất này (có sơ đồ thửa đất kèm theo) và có nghĩa vụ thanh toán cho anh Đỗ Văn H2 số tiền trồng cây keo là 30.000.000đ.
Buộc anh Đỗ Văn H2 phải trả lại cho anh Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H và chị Lưu Hải H1 số tiền 22.500.000đ, tiền đã bán cây keo năm 2017.
Buộc anh Đỗ Văn H2 phải chịu 4.500.000đ, tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Anh H2 phải hoàn trả cho anh Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H và chị Lưu Hải H1 số tiền đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ là 4.500.000đ.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về lãi suất chậm trả trong trường hợp chậm thi hành án, về án, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/01/2020, bị đơn anh Đỗ Văn H2 kháng cáo toàn bộ Bản án với nội dung: anh không lấn chiếm, không đồng ý trả tiền bán kéo năm 2017, không đồng ý nhận tiền trồng keo mà anh D trả cho anh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm cho rằng ngày 01/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 135/2020/TLST – DS về yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhựng quyền sử dụng đất vô hiệu giữa nguyên đơn anh Đỗ Văn H4 và bị đơn ông Nguyễn Văn D, bà Lưu Tam H, bà Lưu Hải H1. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long ban hành Quyết định số: 01/QĐKNPT-VKS-DS, Quyết định kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án số 02/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả xét xử phúc thẩm đối với vụ án bị kháng nghị nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng, quan hệ pháp luật:
Đơn kháng cáo của anh Đỗ Văn H2 được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo trong phạm vi bản án sơ thẩm nên hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm 25/8/2020 bị đơn cung cấp giấp khai tử của bà Nguyễn Thị C. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, mà trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm đương sự không cung cấp cho Tòa sơ thẩm.
Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập tại UBND xã T, huyện H ngày 28/6/2013, chứng thực số 69, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD, ghi: bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất: ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T, ông Đỗ Văn N, bà Nguyễn Thị C, chị Đỗ Thị H5, anh Đỗ Văn H4, chị Đỗ Thị H6; bên nhận chuyển nhượng: ông Nguyễn Văn D, chị Lưu Tam H, chị Lưu Hải H1. Hợp đồng có điểm chỉ ngón trỏ phải của ông N và bà C, có đầy
đủ chữ ký của các bên chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng nêu trên. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ngày 31/7/2019 Tòa án cấp sơ thẩm ra Thông báo số 01/TB-TA đưa bổ sung ông Đỗ Văn L và bà Nguyễn Thị T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; nhưng không đưa ông Đỗ Văn N, bà Nguyễn Thị C, chị Đỗ Thị H5, anh Đỗ Văn H4, chị Đỗ Thị H6 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Theo nội dung giấy khai tử do UBND xã T cấp ngày 16/5/2011 thì bà Nguyễn Thị C chết ngày 08/4/2011 nên không thể tham gia hợp đồng và điểm chỉ ngày 28/6/2013 được. Bản án sơ thẩm nhận định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đỗ Văn L, bà Nguyễn Thị T cho ông Nguyễn Văn D và chị Lưu Tam H, chị Lưu Hải H1 năm 2013 là đúng quy định của pháp luật là không chính xác.
Do có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nêu trên, ảnh hưởng đến quyền lợi ích của các đương sự, và không thể khắc phục tại cấp phúc thẩm. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 310, cần hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[2]. Do bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên nội dung kháng cáo của anh Đỗ Văn H2 nêu trên không đề cập xem xét.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét quyết định trong quá trình giải quyết lại vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm.
[4]. Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị hủy để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Vì vậy anh Đỗ Văn H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Đỗ Văn H2.
Tuyên xử:
Hủy Bản án sơ thẩm số: 11/2020/DS-ST ngày 27/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện H (Nay là Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long), tỉnh Quảng Ninh. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Anh Đỗ Văn H2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trả lại cho anh Đỗ Văn H2 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh H2 đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002107 ngày 15/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Ánh |
Bản án số 32/2024/DS - PT ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 32/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
