Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 24-4-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Kiều Thị Thắng

- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với:

- Bị cáo Lê Văn C, sinh năm 1993 tại phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 04/QĐ-TA ngày 27/01/2021 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn C thời hạn 15 tháng; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Bà Đinh Thị M1, sinh năm 1961, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 17/12/2023, Lê Văn C đến khu vực Đ thuộc tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc gặp người bạn quen biết tên là H (C không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của H). H rủ C cùng sử dụng ma túy tại phòng 306, tầng 3 nhà nghỉ N thuộc thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, C đồng ý. H đưa C 400.000đồng và bảo C đến khu vực cổng Đ thuộc tổ dân phố L, phường L, thành phố V tìm mua ma túy, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Latte BKS 88B1-366.67 đến khu vực cổng Đ thì gặp 01 người đàn ông đi xe máy đến hỏi C có phải người quen của H không, C xác nhận đúng rồi mua của người này 01 gói ma túy với giá 400.000đồng. C cất gói ma túy vào túi áo bên trái và đi về nhà nghỉ N để cùng sử dụng ma túy với H, trên đường đi C mua 04 ống hút và 01 mảnh giấy bạc để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Đến 11 giờ 50 phút C về đến tầng 3 nhà nghỉ N thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh V phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 04 ống hút bằng nhựa, 01 mảnh giấy bạc và 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu xanh và 02 viên nén hình trụ màu đỏ (niêm phong ký hiệu A1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ nhiều màu sắc; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Latte BKS 88B1-366.67.

Cùng ngày Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn C tại Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Kết luận giám định số: 3408/KLGĐ ngày 21/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V, kết luận:

  1. 02 (hai) viên nén hình trụ tròn màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1873g (Không phảy một tám bảy ba gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.
  2. Các hạt tinh thể dạng đá màu xanh có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3556g (Không phảy ba năm năm sáu gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

Hoàn trả lại đối tượng sau giám định, gồm: Mẫu viên nén 0,1132g và mẫu tinh thể dạng đá 0,2928g cùng toàn bộ bao gói.

Đối tượng rủ C mua ma túy để sử dụng và bán ma túy cho C, C không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSTĐ ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, phạt: Lê Văn C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, xử lý vật chứng và tính án phí theo quy định pháp luật. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lê Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 17/12/2023, tại nhà nghỉ N thuộc thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Lê Văn C đang cất giấu trên người 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu xanh và 02 viên nén hình trụ màu đỏ có tổng khối lượng 0,5429g đều là ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Methamphetamine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị nghiện ma túy từ lâu, đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà để thỏa mãn nhu cầu cá nhân bị cáo đã lao vào con đường phạm tội. Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhân thân xấu và tàng trữ khối lượng mà túy lớn, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt cao hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Xác nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Nguyễn Thị M (mẹ đẻ C) 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Latte BKS 88B1-366.67.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 04 ống hút bằng nhựa, 01 mảnh giấy bạc và toàn bộ mẫu vật sau giám định không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/12/2023).
  2. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 04 ống hút bằng nhựa, 01 mảnh giấy bạc và toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh V hoàn lại, gồm: Mẫu viên nén 0,1132g và mẫu tinh thể dạng đá 0,2928g cùng toàn bộ bao gói.

    Trả lại cho Lê Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ nhiều màu sắc nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

    (Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương).

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc Lê Văn C phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C - Tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger