TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-7-2024 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tân Thịnh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Thanh Văn và ông Thân Văn Nhàn.
- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Minh Nguyệt - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ H, Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng Q, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn S, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
(Các đương sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trọng Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tự do tìm hiểu, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán địa phương vào tháng 4 năm 2022 nhưng cho đến tháng 11 năm 2022 anh, chị mới đến UBND xã T, thị xã V đăng ký kết hôn. Cưới xong vợ chồng sống ở huyện C, TP Hồ chí Minh làm ăn sinh sống đến tháng 9 năm 2022 anh, chị về nhà chồng ở thôn S, xã T, huyện V (nay là thị xã V) sống chung. Nay anh, chị có 1 con chung.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc từ khi kết hôn đến khi chị có thai (khoảng tháng 02/2023) thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị mang thai rất khó khăn, đã đi khám nhiều nơi, xác định không thể có thai theo cách tự nhiên nên phải thụ thai nhân tạo, nên khi có thai chị đã nghỉ đi làm công nhân, anh Q đã không chịu làm ăn lại sinh ra chơi bời không quan tâm đến chị, tiền không có, từ đó vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong cách cư xử, ứng xử, tuy xảy ra không to tát nhưng thường xuyên dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt dần. Cứ như vậy kéo dài đến tháng 6 năm 2023 chị bỏ về nhà đẻ ở Tây Ninh sinh sống và vợ chồng chính thức ly thân từ đó đến nay, sau khi ly thân được khoảng 5 tháng thì chị sinh con, anh Q có vào chơi với con được khoảng gần 1 tháng thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên anh Q lại bỏ về, kể từ khi ly thân anh Q có đến đón chị về, nhưng chị xác định nếu tiếp tục chung sống cũng không thể có hạnh phúc và gia đình hai bên thông gia cũng không gặp gỡ hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ.
Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, việc về đoàn tụ là không thể, do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.
- Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung là Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 20/11/2023, Từ khi ly thân cháu Thảo N sống cùng chị tại Tây Ninh. Nay ly hôn cháu Thảo N gần 08 tháng tuổi do vậy chị đề nghị được nuôi con và không có yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, vay nợ: Vợ chồng không có gì vướng mắc, nay ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về ruộng đất nông nghiệp: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị H không có yêu cầu đề nghị nào khác.
Chị Trần Thị H có đơn đề nghị được vắng mặt trong tất cả các phiên tòa xét xử của Tòa án.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng Q trình bày: anh và chị Trần Thị H kết hôn vào tháng 11/2022, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự do, tự nguyện tìm hiểu và có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Cưới nhau xong vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh được khoảng 1 năm thì do mẹ vợ anh ốm nên chị H đã về nhà đẻ sống từ cuối năm 2023 đến nay, thời gian chị H về nhà đẻ sống thì anh, chị thỉnh thoảng có gặp nhau và anh vẫn chuyển tiền cho chị H mua sữa cho con nhưng chị H đòi chuyển nhiều hơn, hơn nữa chị Hoài n nghờ anh có quan hệ ngoại tình, nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng cùng gia đình hai bên đã hoà giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay chị H yêu cầu ly hôn anh hoàn toàn đồng ý.
Về con chung Vợ chồng có 1 con chung là Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 20/11/2023, Từ khi ly thân cháu Thảo N sống cùng chị H tại Tây Ninh. Nay ly hôn anh đề nghị được nuôi con và không có yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
2
Anh Nguyễn Trọng Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt,
Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên phát biểu ý kiến về việc thuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn, bị đơn đều chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 57 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Q.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 20/11/2023 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, vay nợ: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các trình tự tiến hành tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn chị Trần Thị H và bị đơn anh Nguyễn Trọng Q đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị H, anh Nguyễn Trọng Q theo trình tự thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Chị Trần Thị H anh Nguyễn Trọng Q, kết hôn năm 2022 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang, đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo quy định. Vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hòa thuận, không có mâu thuẫn gì lớn xảy ra, đến đầu năm 2023 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, quan
3
điểm sống khác nhau, trong cuộc sống hàng ngày hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra xung đột, cãi vã, vợ chồng không bảo ban được nhau khiến tình cảm lạnh nhạt và không còn hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên từ đầu năm 2023 vợ chồng sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng, mặc dù vợ chồng cùng hai bên gia đình đã hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, bản thân chị Trần Thị H và anh Nguyễn Trọng Q đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng đề nghị ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Trọng Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng cũng không thể có hạnh phúc. Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn Trọng Q là hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống chung của vợ chồng, phù hợp với nguyện vọng của anh chị và phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[3] Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Trọng Q đều có nguyện vọng được nuôi con, tuy nhiên kể từ khi sinh cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 20/11/2023 sống ổn định với mẹ, hơn nữa tính đến thời điểm xét xử cháu N mới được khoảng 08 tháng tuổi, do vậy để đảm bảo quyền lợi ích của cháu nhỏ cần tiếp tục giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Trần Thị H, anh Nguyễn Trọng Q không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về tài sản, vay nợ: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị H và anh Nguyễn Trọng Q không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, theo Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56 và Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:
4
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trọng Q.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Thảo N, sinh ngày 20/11/2023 cho chị Trần Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
3. Cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4. Về tài sản, vay nợ, ruộng đất nông nghiệp: Không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (xác nhận chị Trần Thị H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0003454 ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Chị Trần Thị H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lương Thanh V – T | Vũ Tân T |
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Tân Thịnh |
6
Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
