|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/HSST-CTN
Ngày 22/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hoàng - Nguyên hiệu trưởng Trường đoàn tỉnh Gia Lai- Kon Tum.
- Ông Trần Minh Đức - Nguyên Hiệu trưởng Trường PTCS xã Diên Phú, TP. Pleiku, Gia Lai.
- Ông Nguyễn Đăng Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:
Ông Võ Thế Dân – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS-CTN ngày 23 tháng 07 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST–HS-CTN ngày 01 tháng 08 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Ksor Lai, sinh ngày 07 tháng 6 năm 2004 tại: huyện K, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Buôn T, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia rai; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Rcom N, sinh năm: 1962, con bà Ksor H, sinh năm: 1964. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự.
Ngày 13/8/2023, bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã nộp phạt xong ngày 18/8/2023).
Ngày 27/02/2024, ra đầu thú và bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G (có mặt).
2. Siu Kuơ; Sinh ngày 10 tháng 3 năm 2005 tại: huyện K, tỉnh Gia Lai; Nơi thường trú: Buôn T, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Gia rai; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Con ông Ksor P, sinh năm 1983 và con bà Siu H1, sinh năm: 1985; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: 01 tiền sự.
Ngày 13/5/2021, bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”
Ngày 13/8/2023, bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã nộp phạt xong ngày 18/8/2023)
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Bị hại: R’Chăm Kát, sinh ngày 22-11-2006 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nay T và bà R H’BLuyên; địa chỉ: Buôn T, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Ksor L, S: Ông Trần Mạnh T1 là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. (có mặt)
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Đặng Ngọc B; Luật sư thuộc văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh G. (có mặt)
6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Rcom N, bà Ksor H; địa chỉ: Buôn T, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- - Ông Ksor P, bà Siu H1; địa chỉ: Buôn T, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- - Nay B1; địa chỉ: Buôn T, xã U, huyện K, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- - Nay H2; địa chỉ: Buôn T, xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
- - Hiao Di; địa chỉ: Buôn C, xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).
7. Người phiên dịch: Bà Puih H'Lê N1, địa chỉ: Thôn D, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00' ngày 26/02/2024, Siu K và Ksor L có nhắn tin qua Messenger rủ Rah Lan H (sinh năm 2005), trú buôn Đ, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai đến quán nhậu Tô Bảo H3 ở khu vực bờ kè thuộc thôn M, xã C để nhậu thì H4 đồng ý. Sau đó, Siu K điều khiển xe mô tô Yamaha nhãn hiệu Sirius BKS: 81N1-242.60 chở Ksor L đến quán nhậu Tô Bảo H3 gặp H' Khó và Rơ Ô H5' M (sinh năm 2009, bạn cùng buôn của H4). Siu Kuơ vào quán mua 01 thùng bia Sài G và mồi nhậu rồi đem ra bàn ở ngoài giáp bờ kè để nhậu.
Cùng thời gian này, tại quán còn có bàn của R’Chăm Kát, Nay B2 (sinh năm 2006, trú tại buôn T, xã U, huyện K, Nay H6 (sinh năm 2006, trú tại buôn T, xã I, huyện K) và Siu T2 (sinh năm 2006, trú tại buôn L, xã C, huyện K) ngồi uống rượu ở bàn phía ngoài gần bàn của Siu K và 01 bàn ngồi phía trong của Nay S (sinh năm 2005), Rah Lan Y (sinh năm 2001), cùng trú buôn T, xã U; H (sinh năm 2003), Hiao T3 (sinh năm 2001), cùng trú buôn C, xã I, huyện K; H (sinh năm 2001, trú Buôn T) và Rơ Ô G1 (sinh năm 1999, trú Buôn P, xã I) đang uống rượu.
Sau đó trời mưa nên các bàn ở phía ngoài của Siu K, R'Chăm K1 và Nay Suêt lần lượt di chuyển vào trong quán khu vực bàn có mái che ngồi sát gần nhau tiếp tục ngồi uống bia rượu. Do R'Chăm K2, Nay B2 có quen biết là người cùng buôn với Rah Lan Y, Nay Suêt; Nay H6 có quen biết với H7 Khôi nên khi Siu T2 đi về trước thì K2, B2 và H6 nhập với bàn của Nay S cùng ngồi uống rượu.
Trong khi uống rượu do Nay H6 có quen biết, là bạn với Rơ Ô H8 qua mạng xã hội facebook, Rơ Ô G1 có biết Ksor L qua mạng facebook (là bạn với nick facebook của L là “Hoàng tử bé”) nên H6 và Rơ Ô G1 đã cầm rượu qua bàn của Siu K và Ksor L để nói chuyện và mời rượu. Trong khi uống rượu giữa Nay H6, Rơ Ô G1 và Siu K, Ksor L không xảy ra mâu thuẫn với nhau. Sau khi uống rượu khoảng 20 phút sau thì Nay H6, Rơ Ô G1 đi về bàn của mình tiếp tục ngồi uống rượu.
Đến khoảng 23h00' cùng ngày, sau khi bàn của Siu K uống hết 01 thùng bia S thì mọi người cùng nghỉ để đi về. Rah Lan H' Khó và Rơ Ô H5' Mô ra lấy xe mô tô đi về trước. Kuơ và L cũng đi ra khu vực để xe để đi về. Thấy vậy, R'Chăm K2, N, Rah Lan Y, Nay Suêt lại gây sự không cho L và K về mà chỉ cho H8 và H4 đi về trước. Mặc dù, Siu K và Ksor L đã xin nhóm K2 đi về nhưng K2, B2 ngăn cản không cho về. Lúc này, L đã lên xe mô tô Yamaha Sirius BKS: 81N1- 242.60 nổ máy chở K ngồi sau thì bị Nay B2 cầm tay nắm phía sau yên xe kéo giữ lại không cho về. Đồng thời, Nay B2 cầm mũ bảo hiểm đánh một cái vào lưng K và hô lớn “Đánh luôn”. Lúc này, Ksor L dừng xe lại, xuống mở yên xe mô tô, lấy 02 con dao Thái Lan có đặc điểm dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu vàng, mũi dao sắc nhọn. L cầm 01 con dao rồi đưa cho K 01 con dao với mục đích là phòng thân, để nhóm K2, B2 không lao vào đánh. Khi đó, R'Chăm K2, N, Rah Lan Y và Nay S lao đến dùng tay, chân đánh K và L. Kuơ sợ không dám đánh lại mà cầm dao bỏ chạy ra đường Q, băng qua đường và trốn dưới chân cầu L. Tại đây, K đã ném con dao Thái Lan ở khu vực bờ sông B.
Lúc này, R'Chăm K3 cầm mũ bảo hiểm đánh 01 cái vào đầu Ksor L làm L bị ngã. Bực tức về việc bị đánh nên khi đứng dậy, L đã dùng tay phải lấy con dao Thái lan trong túi quần ra. Khi R’Chăm K2 lao vào đánh thì L đã cầm dao Thái Lan, mũi dao hướng lên trên, đâm sốc từ dưới lên trên, 02 nhát vào vùng lưng của K3. Rồi tay phải L cầm dao Thái Lan mũi dao ngược trở lại, đâm liên tiếp 02 nhát hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng ngực và bụng Kát, đồng thời đâm thêm 01 nhát trúng vào vùng vai phải và 01 nhát nữa thì trúng vào tay phải làm anh K2 gục tại chỗ. Ngay lúc này, Nay B2 lao vào dùng tay, chân đánh Ksor L thì bị L dùng dao thái lan đâm 01 nhát vào vào vùng trán (dưới chân tóc) và 01 nhát trúng ngón giữa bàn tay trái; Nay H6 và Hiao D lao xông vào can ngăn thì Nay H6 bị L dùng dao đâm 01 nhát vào cánh tay trái; Hiao D bị L dùng dao đâm 01 nhát vào vùng vai cổ bên phải. Sau đó, Ksor L cầm dao chạy theo Siu K bỏ trốn tại khu vực bờ Sông Ba dưới chân cầu L. Đến khoảng 00h10', ngày 27/02/2024, sau khi thấy nhóm của K2 đi về hết thì L và K quay lại quán Tô Bảo H3. Kuơ lấy xe Yamaha Sirius BKS: 81N1-242.60 chở L về nhà tại Buôn T, xã C, huyện K. Trên đường về, L đã nói với K là bị nhóm của K2, B2 và một số người nữa dùng tay, chân đánh. Lai đã dùng dao Thái lan đâm nhiều người, có đâm 01 người gục tại chỗ, không biết họ chết hay không.
Sau khi bị Ksor L đâm, Nay H6, Nay B2 đã đến Trạm y yế xã Ia Rsươm, H đến Trạm Y tế xã I, huyện K, tỉnh Gia Lai để sơ cứu, khâu vết thương, sau đó tự về nhà điều trị. Còn R’Chăm Kát được Rah Lan Y và Nay S điều khiển xe máy chở về nhà. Sau đó, được gia đình đưa đi Trung tâm y tế huyện K cấp cứu thì chết.
Đến sáng ngày 27/02/2024, Ksor L đã đi thu hoạch mì cho gia đình bà R1 H’Yơn tại khu vực Buôn T, xã C, huyện K, Gia Lai. Đến tối cùng ngày, L về nhà thì biết tin R'Chăm K2 chết. Vào lúc 21h30' cùng ngày Ksor L đã được gia đình đưa đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Còn Siu K, sau khi biết Ksor L ra Công an đầu thú thì được gia đình động viên đưa đến Công an để làm việc, khai nhận toàn bộ sự việc có liên quan.
* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với K: Tại vùng mắt phải bị sưng phù nề, đốt thứ 2 ngón trỏ bàn tay trái có 1 vết thương hở hình khe KT(0,5x0,01)cm.
* Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường xảy ra vụ án tại khu vực quán T4 (quán nhậu bờ kè cầu L), thuộc xóm M, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai
* Khám nghiệm tử thi R’Chăm Kát:
Khám ngoài:
- + Vùng ngực phải có vết thương hình khe kích thước (1,5x0,8)cm, bờ mép sắc gọn, nằm xiên, trên phải nhọn, dưới trái tù, tâm vết cách hõm ức 7cm về phía dưới phải, cách hõm nách 17cm về phía dưới trái, cách gót chân phải 122cm về phía trên.
- + Vùng mặt trước sườn phải có vết thương hình khe kích thước (1,4x0,8)cm, bờ mép sắc gọn, nằm xiên, trên trái, dưới phải; tâm vết cách vết thương vùng ngực phải 13cm về phía dưới phải, cách hõm nách 21cm về phía dưới trái, cách gót chân phải 110cm về phía trên; bờ trên xướt da kích thước (8x0,1)cm.
- + Vùng ngực trái có vết thương kích thước (0,4x0,4)cm, sâu 0,2cm.
- + Vùng thắt lưng phải có vết thương hình khe kích thước (1,5x0,6)cm, bờ mép sắc gọn, nằm xiên, trên phải tù, dưới phải nhọn.
- + Vùng thắt lưng trái có vết thương hình khe kích thước (2,5x1)cm, bờ mép sắc gọn, nằm dọc, trên tù dưới nhọn.
- + Vùng 1/3 trên, mặt ngoài cánh tay phải có vết thương hình khe kích thước (1x0,5)cm, sâu 0,5cm, nằm xiên, trên trước nhọn, dưới sau tù.
Khám trong:
- + Vết thương vùng ngực phải làm đứt sụn sườn số 4 phải, rách màng ngoài tim, xuyên qua tâm thất phải; vết có chiều hướng từ trước ra sau, hơi chếch từ trái qua phải, từ trên xuống dưới.
- + Khoang màng phổi phải và trái chứa khoảng 400ml và 200ml máu lỏng và máu đông cục; phổi phải và trái không dập, vỡ.
- + Khoang màng tim chứa khoảng 350ml máu lỏng và máu đông cục; vết thương vùng mặt trước tâm thất phải kích thước (1,5x0,1)cm, vết thương vùng mặt sau tâm thất phải kích thước (0,5x0,1)cm.
- + Vết thương vùng mặt sườn phải làm xuyên qua sụn sườn số 8 phải, qua cơ hoành, thủng gan kích thước (0,5x0,1)cm, sâu 2cm.
- + Ổ bụng chứa khoảng 600ml máu lỏng và máu đông cục.
- + Vết thương vùng thắt lưng phải xuyên qua ổ bụng làm thủng thận phải, vết thương có chiều hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên, nằm ngang theo chiều từ phải qua trái.
- + Vết thương vùng thắt lưng trái xuyên qua ổ bụng, làm thủng lách, vết có chiều hướng từ sau ra trước, từ dưới lên trên, hơi chếch từ phải qua trái.
* Tại Kết luận Giám định tử thi số 276/KLGĐTT-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh G kết luận nguyên nhân chết đối với R'Chăm K2: “Mất máu cấp do vết thương thấu ngực, bụng gây thủng tim, thận, lách tạo bởi vật sắc nhọn”.
* Tại Kết luận giám định số: 301/KL-KTHS ngày 13/3/2024 của Phòng K4 Công an tỉnh G kết luận:
- + Chất màu nâu nghi máu thấm trên cục bông (Mẫu ký hiệu A1) gửi giám định là máu người, nhóm máu A, trùng với nhóm máu của bị hại R’Chăm Kát.
- + Chất màu nâu nghi máu thấm trên cục bông (Mẫu ký hiệu A2) gửi giám định là máu người, nhóm máu A, trùng với nhóm máu của bị hại R’Chăm Kát.
- + Chất màu nâu nghi máu thấm trên áo khoác màu đỏ dài tay (Mẫu ký hiệu A3) gửi giám định là máu người, nhóm máu A, trùng với nhóm máu của bị hại R’Chăm Kát.
- + Chất màu nâu nghi máu thấm trên áo sơ mi dài tay (Mẫu ký hiệu A4) gửi giám định là máu người, nhóm máu A, trùng với nhóm máu của bị hại R’Chăm Kát.
Vật chứng và đồ vật có liên quan đến vụ án:
- - Đối với con dao Ksor Lai dùng để gây án, sau khi gây án đến sáng ngày 27/02/2024, Ksor L mang đi làm và để quên lại chòi rẫy thuộc buôn C, xã U, huyện K, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
- - 02 (một) cục bông thấm chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) áo khoác màu đỏ dài tay dính chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) áo sơ mi dài tay dính chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) ruột xốp mũ bảo hiểm.
- - 01 (một) vỏ mũ bảo hiểm màu trắng.
- - 03 (ba) chiếc dép.
- - 01 (một) cục bông thấm máu R’Chăm Kát.
* Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị hại R’Chăm Kát yêu cầu bồi thường tiền chi phí ma chay, chôn cất cho R'Chăm K2; tiền yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 361.870.000₫ (Ba trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng: gồm: Bồi thường chi phí ma chay, chôn cất cho R'Chăm K2 là: 61.870.000₫ (Sáu mươi mốt triệu tám trăm bảy mươi ngàn đồng) và bồi thường tổn thất tinh thần là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng)
Gia đình của Ksor L đã tự nguyện bồi thường, khắc phục số tiền 33.000.000 đồng
- Anh Nay H6, Nay B2 và Hiao D không yêu cầu Ksor L bồi thường
2. Diễn biến tại phiên tòa:
2.1. Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung Cáo trạng số: 112/CT-VKS-P2 ngày 23 tháng 7 năm 2024, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố:
-Bị cáo Ksor L phạm tội “Giết người”.
-Bị cáo Siu K phạm tội “Che giấu tội phạm”.
2.1.1 Về hình phạt:
+ Căn cứ n Khoản 1 Điều 123; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Ksor L từ 16 năm đến 17 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2024.
+ Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 389; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Siu K từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
2.1.2. Về dân sự:
Xét thấy yêu cầu bồi thường thiệt hại của đại diện của bị hại là có căn cứ, Áp dụng Điều 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đề xuất:
Buộc bị cáo Ksor L bồi thường các khoản như sau:
Chi phí ma chay, chôn cất cho R'Chăm K3: Tiền mua quan tài, mua đồ liệm, chi phí tang lễ..: 10.000.000₫
- Tiền thuê khung rạp, bàn ghế, chi phí phục vụ đám ma: 30.000.000₫ ( Đại diện bị hại yêu cầu: 42.950.000đ, trong đó có khoản ăn uống nên chấp nhận 30.000.000₫)
- Tiền đào huyệt: 1.820.000₫
Bồi thường tổn thất tinh thần: 140.400.000₫ (tương đương 60 tháng lương cơ sở)
Tổng số tiền phải bồi thường là: 182.220.000₫
Không chấp nhận khoản tiền xây mộ là: 7.100.000₫
* Gia đình của bị cáo Ksor L đã tự nguyện bồi thường, khắc phục số tiền 33.000.000 đồng. Buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho đại diện bị hại là: 149.220.000₫.
2.1.3. Về án phí:
Bị cáo Ksor L phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị cáo Siu K chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
2.1.4.Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
2.2.Người bào chữa cho các bị cáo Ksor L, Siu K là ông Trần Mạnh T1 trình bày: Thống nhất về tội danh như Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Ksor L đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Ksor L đã ra đầu thú. Các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên hiểu biết về pháp luật còn nhiều hạn chế, nguyên nhân xuất phát mâu thuẫn do một phần lỗi của phía bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Ksor L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo Ksor L được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo Siu K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- Các bị cáo đều nhất trí như quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến gì thêm.
2.3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đại diện hợp pháp của bị hại: Hành vi phạm tội của bị cáo L là đặc biệt nghiêm trọng dẫn đến cái chết của bị hại. Về trách nhiệm dân sự đề nghị bị cáo L tiếp tục bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Về hình phạt thống nhất theo mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
2.3. Người đại diện hợp pháp của bị hại: Về bồi thường dân sự yêu cầu bị cáo Ksor L phải bồi thường số tiền 229.020.000 đồng vì bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường 33.000.000 đồng nên đề nghị tiếp tục bồi thường 196.020.000 đồng. Về hình phạt đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
2.5. Các bị cáo Ksor L, Siu K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tội danh của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án, có cơ sở để kết luận:
2.1. Đối với tội “Giết người”
Xuất phát từ việc nhóm của bị hại R’Chăm Kát ngăn cản không cho Ksor L, Siu K về nên đã kéo xe của L lại và dùng mũ bảo hiểm, tay,chân đánh vào người L, K. Bực tức vì hành động của nhóm bị hại, L đã chủ động lấy hai con dao trong cốp xe, 01 con đưa cho K để phòng thân còn 01 con giữ lại cho mình sử dụng. Tuy, có dao trong tay nhưng K không sử dụng mà chỉ cầm dao bỏ chạy. Còn L đã dùng dao đâm 06 nhát vào vùng lưng, ngực, bụng, vai, tay của K2 làm Kát chết do “Mất máu cấp do vết thương thấu ngực, bụng gây thủng tim, thận, lách”. Lúc Nay H6, Nay B2 và Hiao D lao vào can ngăn thì bị L dùng dao đâm bị thương ở vùng tráng, tay, cổ nhưng Nay H6, Nay B2 và Hiao D đã từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với Ksor Lai.
Do vậy, đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Ksor L phạm tội “Giết người” với tình tiết định khung “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
2.2. Đối với tội “Che giấu tội phạm”
Đối với hành vi của Siu K, sau khi nghe Lai kể về việc đã đâm nhiều người trong đó có một người gục tại chỗ không biết sống hay chết bị cáo đã điều khiển xe mô tô chở Ksor L mang theo hung khí rời khỏi hiện trường. Ngày hôm sau, khi được biết người mà L đâm đã chết Siu K cũng không trình báo cho cơ quan chức năng; chỉ khi biết L đã ra đầu thú thì bị cáo mới khai nhận toàn bộ sự việc. Hành vi của bị cáo đã gây khó khăn cho công tác điều tra vụ án.
Do đó, đủ cơ sơ để khẳng định bị cáo Siu K phạm tội “Che giấu tội phạm” quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 389 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án:
-Hành vi phạm tội của Ksor L là đặc biệt nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo L nhận thức rõ hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm có tính sát thương cao đâm vào lưng, bụng, ngực là các vị trí trọng yếu của cơ thể bị hại có thể gây chết người nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
-Bị cáo Siu K đã che dấu hành vi phạm tội của bị cáo Ksor L khi chở bị cáo L mang theo hung khí rời khởi hiện trường, khi được H4 cho biết người bị L đâm đã chết bị cáo cũng không trình báo cơ quan chức năng. Hành vi của bị cáo Siu K gây khó khăn trong trong tác điều tra. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
4.1.Tình tiết tăng nặng: Không có
Về nhân thân:
-Bị cáo Ksor L: Ngày 13/8/2023, bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
-Bị cáo Siu K: Ngày 13/5/2021 và ngày 13/8/2023 bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo và phạt 2.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”
4.2.Tình tiết giảm nhẹ:
- Đối với bị cáo Ksor L: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Ksor L sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-Đối với bị cáo Siu K: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt:
Xét thấy, bị cáo L phạm tội có tính chất côn đồ, bị cáo đã dùng dao đâm vào vùng trọng yếu trên cơ thể bị hại với cường độ quyết liệt cho thấy bị cáo coi thường tính mạng của người khác. Hậu quả dẫn đến cái chết của bị hại. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc bằng hình phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình cho bị cáo.
Ngoài ra, cả hai bị cáo đều là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Vì vậy, khi lượng hình cho hai bị cáo Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.
[6] Về dân sự:
Chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của người đại diện hợp pháp của bị hại buộc bị cáo phải bồi thường 229.020.000 đồng trong đó bao gồm các khoản tiền sau:
- -Chi phí hợp lý cho việc mai táng: mua quan tài, tiền mua đồ liệm, chi phí tang lệ trọn gói: 10.000.000 đồng.
- -Tiền thuê khung rạp, bàn ghế: 30.000.000 đồng.
- -Tiền bồi dưỡng cho người đào huyệt: 1.820.000 đồng.
- - Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 80 tháng lương cơ sở là: 80 x 2.340.000 đồng = 187.200.000 đồng
- => Tổng cộng số tiền được chấp nhận: 229.020.000 đồng.
Vì bị cáo L và gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 33.000.000 đồng nên buộc bị cáo L phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại 196.020.000 đồng.
[7] Về vật chứng:
Các vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm:
- - 02 (một) cục bông thấm chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) áo khoác màu đỏ dài tay dính chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) áo sơ mi dài tay dính chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) ruột xốp mũ bảo hiểm.
- - 01 (một) vỏ mũ bảo hiểm màu trắng.
- - 03 (ba) chiếc dép.
- - 01 (một) cục bông thấm máu R’Chăm Kát.
[8] Về án phí:
-Bị cáo Ksor L phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
-Bị cáo Siu K chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9]. Đối với các đối tượng và những vấn đề có liên quan đến vụ án:
9.1.Đối với thương tích của các anh Nay H6, Nay B2 và Hiao Di:
Ngày 26/02/2024, bị cáo Ksor L đã có hành vi dùng dao Thái lan đâm nhiều nhát vào người R'Chăm K2 làm anh K2 tử vong. Cùng lúc đó, Nay B2, Nay H6 và Hiao D đã xông vào đánh L và can ngăn thì Nay B2 bị Ksor L dùng dao đâm 01 nhát vào vùng trán và 01 nhát trúng ngón giữa bàn tay trái; Nay H6 bị L dùng dao đâm 01 nhát vào cánh tay trái; Hiao D bị L dùng dao đâm 01 nhát vào vùng vai cổ bên phải. Sau khi bị đâm, Nay H6, Nay B2 đã đến Trạm y tế xã I, H đến Trạm y tế xã I, huyện K để sơ cứu, khâu vết thương, sau đó tự điều trị tại nhà.
Ngày 01/4/2024, 02/4/2024 Nay H6, Nay B2 và Hiao D đã có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự đối với Ksor Lai, không yêu cầu Ksor L bồi thường về dân sự. Vì vậy, Cơ quan CSĐT không xem xét, xử lý hành vi gây thương tích đối với bị can Ksor Lai quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
9.2. Đối với thương tích của Ksor L và Siu K:
Khi xảy ra sự việc, Ksor L bị R'Chăm K2 cầm mũ bảo hiểm đánh 01 cái vào đầu. Sau đó, L bị K2, Nay B2, Rah Lan Y và Nay S dùng tay, chân đấm vào mặt và người làm bầm mắt phải. Siu K bị Nay B2 cầm mũ bảo hiểm đánh vào phần lưng. Vết thương của L và K không gây thương tích, không phải điều trị tại bệnh viện hay cơ sở y tế. Ksor Lai và Siu K đã có đơn từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự hành vi cố ý gây thương tích của N, Rah Lan Y và Nay Suêt.
9.3. Đối với hành vi Gây rối trật tự công cộng của nhóm Nay B2, Rah Lan Y và Nay S1.
Xuất phát từ việc R'Chăm K2, N, Rah Lan Y và Nay Suêt không cho Siu K và Ksor L đi về. Mặc dù, K và L đã xin phép nhóm K2 để đi về nhưng K2, B2 ngăn cản không cho về. Khi L lên xe mô tô nổ máy chở K đi về thì bị Nay B2 cầm tay nắm phía sau yên xe kéo giữ lại không cho về. Đồng thời, Nay B2 đã cầm mũ bảo hiểm đánh một cái vào lưng K và hô lớn “Đánh luôn”. Lúc này, R' Chăm Kát, Rah Lan Y, Nay S1 và Nay B2 cùng lao vào dùng tay, chân đánh L và K; R’Chăm K2 cầm mũ bảo hiểm và tay chân đánh Ksor L dẫn đến việc L đã dùng dao đâm nhiều nhát vào bụng và ngực hậu quả làm Kát chết.
Xét thấy, hành vi của các đối tượng Nay B2, Rah Lan Y và Nay Suêt có dấu hiệu của tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự thuộc thẩm quyền điều tra xử lý của Cơ quan CSĐT Công an huyện K. Cơ quan CSĐT điều tra ra Quyết định số: 1000/QĐ-CSHS, ngày 24 tháng 6 năm 2024, tách hành vi Gây rối trật tự công cộng của các đối tượng Nay B2, Rah Lan Y và Nay S1, chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện K tiếp tục kiểm tra, xác minh, xử lý theo thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng:
Áp dụng điểm n Khoản 1 Điều 123; điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ksor L.
Áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 389; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Siu K.
Áp dụng Điều 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Áp dụng Điều 48 của của Bộ luật hình sự 2015
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Về tội danh: Tuyên bố:
2.1. Bị cáo Ksor L phạm tội “Giết người”.
2.2. Bị cáo Siu K phạm tội “Che giấu tội phạm”.
3. Về hình phạt:
3.1. Xử phạt bị cáo Ksor L 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/02/2024.
3.1. Xử phạt bị Siu Kuơ 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
4. Về dân sự: Xử
Buộc bị cáo Ksor L phải có nghĩa vụ bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Nay T, bà R H’BLuyên 196.020.000 đồng
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
5. Về xử lý vật chứng: Xử
Tịch thu tiêu hủy:
- - 02 (một) cục bông thấm chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) áo khoác màu đỏ dài tay dính chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) áo sơ mi dài tay dính chất màu nâu nghi máu.
- - 01 (một) ruột xốp mũ bảo hiểm.
- - 01 (một) vỏ mũ bảo hiểm màu trắng.
- - 03 (ba) chiếc dép.
- - 01 (một) cục bông thấm máu R’Chăm Kát.
(Toàn bộ các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng số 130/2024 ngày 24 tháng 07 năm 2024, giữa: Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và Cục THADS tỉnh G)
6. Về án phí: Xử
Buộc bị cáo Ksor L phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 9.801.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
Buộc bị cáo Siu K phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
7. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.
Nếu người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 32/2024/HSST-CTN ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (giết người và che giấu tội phạm)
- Số bản án: 32/2024/HSST-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giết người và Che giấu tội phạm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giêt người + che dấu tội phạm bị cáo Ksor L
