|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2024/DS-ST
Ngày 22-8-2024
V/v “tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Việt Phương
- Ông Dương Văn Hậu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/QDST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Số B N, Phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Người được ủy quyền: Bà Diệp Lâm Thảo Q, chức vụ: Trưởng Phòng G (Theo Quyết định ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc ký hợp đồng/thỏa thuận, văn bản và tham gia tố tụng).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Thái T, chức vụ: Phó phòng G (Theo Giấy ủy quyền ngày 06/3/2024 của Trưởng Phòng G - Ngân hàng Thương mại cổ phần S về tham gia tố tụng).
- Bị đơn: Bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1990
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Ông Thái T có đơn xin vắng mặt, bà N vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định:
Ngày 31/3/2022 bà Trần Thị Bích N có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân (gọi chung là Hợp đồng). Sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã cấp hạn mức và thực hiện giải ngân cho bà N vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay: tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 31,2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà N nhiều lần vi phạm hợp đồng không toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà N và chuyển khoản vay của bà N sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/8/2023. Trong quá trình giao dịch sử dụng thẻ tín dụng bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng do hiện nay bà N cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bà N trả nợ đối với số tiền nợ gốc là 37.922.772 đồng, trong đó nợ gốc 20.000.000 đồng, lãi trong hạn là 3.479.006 đồng, lãi quá hạn 14.443.766 đồng.
Đồng thời, bà N phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 23/8/2024 cho đến khi chấm dứt nợ vay.
*Bị đơn bà Trần Thị Bích N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoà Bình phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú hiện nay tại huyện H nên Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình giải quyết là đúng theo quy định. Việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Buộc bà Trần Thị Bích N trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 22/8/2024 là 37.922.772 (trong đó: Nợ gốc 20.000.000 đồng, lãi trong hạn là 3.479.006 đồng, lãi quá hạn 14.443.766 đồng) và tiền lãi thực tế phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ.
Về án phí: Bà Trần Thị Bích N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật. Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn sau khi thụ lý vụ án Tòa án không tống đạt được thông báo thụ lý vụ án do bị đơn không có ở tại nơi cư trú tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp nhưng trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng tín dụng. Tại biên bản xác minh tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu bà Trần Thị Bích N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nhưng hiện nay không còn sinh sống tại địa chỉ này, không rõ hiện nay bà N đang ở đâu, làm gì. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì trong trường hợp này bị đơn được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết theo quy định tại khoản 5 Điều 177, Điều 179, điểm b khoản 2, Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Trần Thị Bích N, bà N có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nên đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Vụ án có nội dung tranh chấp hợp đồng tín dụng, đến ngày 15/8/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Căn cứ Điều 429, Điều 688 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
[4] Về nội dung vụ án: Ngày 31/3/2022 bà Trần Thị Bích N có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ dành cho khách hàng cá nhân (gọi chung là Hợp đồng). Sau khi ký hợp đồng Ngân hàng đã cấp hạn mức và thực hiện giải ngân cho bà N vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay: tiêu dùng cá nhân, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 31,2%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Do bà N nhiều lần vi phạm hợp đồng không toán nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà N và chuyển khoản vay của bà N sang nợ quá hạn kể từ ngày 15/8/2023.
[4.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ theo Giấy đăng ký sử dụng Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho hàng cá nhân) ngày 31/3/2022, số tiền tính đến ngày 22/8/2024 là 37.922.772 đồng, trong đó nợ gốc 20.000.000 đồng, lãi trong hạn là 3.479.006 đồng, lãi quá hạn 14.443.766 đồng.
Xét thấy: Mặc dù bị đơn vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng nhưng căn cứ theo Giấy đăng ký sử dụng Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (áp dụng cho khách hàng cá nhân) ngày 31/3/2022 có nội dung và hình thức phù hợp quy định phát hành thẻ của Ngân hàng, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định bị đơn có ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng và được Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Bị đơn bà Trần Thị Bích N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng như thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết giữa các bên, ngày 15/8/2023, ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bà Trần Thị Bích N trả số tiền nợ gốc tính đến ngày 22/8/2024 là 20.000.000 đồng.
[4.2] Đối với các khoản tiền lãi:
Ngân hàng yêu cầu bà N trả tiền lãi tính đến ngày 22/8/2024 bao gồm, lãi trong hạn là 3.479.006 đồng, lãi quá hạn 14.443.766 đồng. Tuy nhiên căn cứ bảng kê tính lãi phí tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S thì tiền lãi phù hợp.
Từ nội dung trên chấp nhận toàn bộ đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4] Về án phí:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn 37.922.772 đồng phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng như sau: 37.922.772 đồng x 5% = 1.896.138 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 5 Điều 177, Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Điều 466, Điều 429, 688 của Bộ luật dân sự 2015;
- Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với bà Trần Thị Bích N.
Buộc bà Trần Thị Bích N trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 22/8/2024 là 37.922.772 (trong đó: Nợ gốc 20.000.000 đồng, lãi trong hạn là 3.479.006 đồng, lãi quá hạn 14.443.766 đồng).
Kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ, bà Trần Thị Bích N còn phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết.
- Về án phí:
Buộc bà Trần Thị Bích N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.896.138 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí và được hoàn lại số tiền là 757.000 đồng theo biên lai nộp tạm ứng án phí số 0005344 ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc liêu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phan Chí Tâm |
Nơi nhận
- - TAND tỉnh Bạc Liêu
- - VKSND huyện Hòa Bình
- - Chi cục THADS huyện Hòa Bình
- - Các đương sự
- - Lưu hồ sơ
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín. Địa chỉ trụ sở: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch Diễm, chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín. - Bị đơn: Bà Trần Thị Bích Ngân, sinh năm 1990 Địa chỉ: Ấp Vĩnh Tiến, xã Vĩnh Mỹ A, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.
