Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 32/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/5/2024

V/v “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông: Lê Thế Hải
  2. Bà: Nguyễn Thị Sen

Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST – ST, ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T - sinh năm: 1998 – Có mặt
  • Bị đơn: anh Mai Minh H - sinh năm: 1997 – Vắng mặt

Đều có địa chỉ tại: TDP Q, phường N, TX. N, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại phiên tòa chị Nguyễn Thị T trình bày như sau: Chị và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường N vào ngày 25/11/2019. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, không quan tâm đến vợ con, nhiều lúc còn đánh đập chị. Mâu thuẫn thường xuyên xảy ra ngày càng trầm trọng. Chị và anh H đã sống ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: chị và anh H có 01 con chung là cháu Mai Thị Phương T1 – Sinh ngày: 07/4/2020. Hiện cháu đang ở với mẹ, nay ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi cháu Phương T1 và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan điểm của anh Mai Minh H: Quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần Tòa án triệu tập anh H lên làm việc nhưng anh H cố tình trốn tránh không lên làm việc vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai hay nguyện vọng của anh Mai Minh H được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, về phía bị đơn không chấp hành theo đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147,227 và 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Mai Minh H. Về con chung giao cháu Phương T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh H được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Buộc chị T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Mai Minh H là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án nhưng anh H cố tình trốn tránh, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bản thân. Tại phiên tòa lần thứ nhất anh H vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt thủ tục hợp lệ, đúng theo quy định cho anh H. Vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, không quan tâm đến vợ con, nhiều lúc còn đánh đập vợ. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do anh H cố tình trốn tránh nên Tòa án không thể làm việc được.

Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND phường N nên là vợ chồng hợp pháp. Quá trình sống có xảy ra mâu thuẫn hay xích mích gì hay không thì địa phương không nắm được do anh chị không báo cáo. Qua xác minh tại địa phương HĐXX xét thấy hiện tại chị T và anh H đang sống ly thân điều này chứng tỏ đời sống hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh H.

[3] Về con chung: anh chị có 01 con chung là Mai Thị Phương T1 – Sinh ngày: 07/4/2020. Hiện tại cháu T1 đang ở với mẹ, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phương T1. Xét thấy chị T1 có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu, hơn nữa cháu T1 còn bé lại là bé gái rất cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ, suốt thời gian sống ly thân cho đến nay chị T vẫn nuôi dưỡng cháu T1 khỏe mạnh, phát triển bình thường. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ giao cháu Phương T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T không yêu cầu anh H đóng góp cấp dưỡng nuôi con, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị T nên HĐXX chấp nhận không buộc anh H phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Anh H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

[5] Về án phí: Buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, 271 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS ; Căn cứ vào các Điều 51, 56; Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ và o điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Mai Minh H.
  2. Về con chung: Chị T và anh H có 01 con chung cháu Mai Thị Phương T1 – Sinh ngày: 07/4/2020. Giao cháu Phương T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh H được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.
  3. Về tài sản và công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007068, ngày 29 tháng 2 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị T vắng mặt anh H. Chị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND phường Ninh Hải, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 32/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: au khi kết hôn anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, không quan tâm đến vợ con, nhiều lúc còn đánh đập vợ. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger