Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Hồng Cẩm

Bà Lê Huỳnh Ngọc Lý

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Trương Văn H, sinh năm 1971, tại huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: Khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn V (đã chết) và bà Trần Thị T; vợ tên Lâm Thị M, có 02 người con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2002; bị cáo là con duy nhất; nhân thân: Ngày 26-8-2008, bị Công an huyện T xử phạt hành chính 10.000.000 về hành vi “Đánh bạc”; ngày 08-5-2009, bị Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện T xử phạt hành chính 15.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” đã chấp hành xong; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-01-2024 đến nay, bị cáo có mặt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1966, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Nguyễn Duy H2, sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp H, xã N, huyện H, tỉnh Kiên Giang, vắng mặt;
  • Ông Trương Văn C, sinh năm 1955, nơi cư trú: Khóm S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
  • Ông Lê Văn H3, sinh năm 1975, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Phạm Văn L, sinh năm 1962, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
  • Bà Lâm Thị Đ, sinh năm 1982, nơi cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Trần Văn Q, sinh năm 1964, nơi cư trú: Khóm H, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
  • Bà Lê Thị V1, sinh năm 1968, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Ông Lê Thanh T1, sinh năm 1983, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
  • Bà Trương Thị H4, sinh năm 1961, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
  • Ông Nguyễn Phước H5, sinh năm 1979, nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

Người làm chứng:

  • Bà Phạm Thị Kim C1, sinh năm 1990, vắng mặt;
  • Bà Lâm Thị M, sinh năm 1972, có mặt;
  • Ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1969, có mặt;
  • Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985, vắng mặt
  • Ông Trần Thanh H6, sinh năm 1984, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 21-01-2024, Đ1, kinh tế, ma túy - Công an huyện T phối hợp với Công an thị trấn Cô Tô phát hiện bắt quả tang Trương Văn H có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề qua tài khoản Zalo và tin nhắn điện thoại, với tổng số tiền trên phơi đề là 18.410.000 đồng, tại nhà của H, ngụ khóm S, thị trấn C, huyện T, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng 01 phơi đề, điện thoại di động và các đồ vật, tài liệu có liên quan.

Qua điều tra xác định: Huẩn bắt đầu bán số đề được thua bằng tiền cho nhiều người tham gia từ ngày 21-12-2023, thông qua các số điện thoại 0969.999.xxx, 0326636959, 0834564439 và tài khoản Zalo của H tên “Mai Lâm”, sau đó nộp phơi đề về cho người có tên tài khoản Z “Thanh Sơn” (chưa rõ họ tên, địa chỉ), để hưởng tiền huê hồng. Sau khi có kết quả xổ số Miền Nam hàng ngày, sẽ trực tiếp tính tiền thắng thua với thầu đề và người chơi. Cách thức đánh bạc thắng thua như sau: Mua số đầu của giải 8 (lô A), số đuôi giải đặc biệt (lô B), số lô (bao lô) của hai con là 1.000 đồng trúng 80.000 đồng; còn đá cặp là 1.000 đồng trúng 400.000 đồng, đá vòng 1.000 đồng trúng 1.200.000 đồng. Thỏa thuận hưởng tiền huê hồng của lô A, lô B, hàng sáu là 19%; của số lô, số đá là 03% trên tổng số tiền bán được.

Trong ngày 21-01-2024, H bán số lô, số đề cho 12 người với tổng số tiền 18.410.000 đồng, cụ thể: Bán số đề cho Phạm Thị H1 với số tiền 1.060.000 đồng; Nguyễn Duy H2 với số tiền 150.000 đồng; Trương Văn C với tổng số tiền 450.000 đồng; Lê Văn H3 với tổng số tiền 4.600.000 đồng; Phạm Văn L với tổng số tiền 450.000 đồng; Lâm Thị Đ với tổng số tiền 3.700.000 đồng; Trần Văn Q với tổng số tiền 3.000.000 đồng; Lê Thị V1 với tổng số tiền 3.150.000 đồng; Lê Thanh T1 với tổng số tiền 300.000 đồng; Trương Thị H4 với tổng số tiền 450.000 đồng; Nguyễn Phước H5 với tổng số tiền 1.000.000 đồng; 01 người phụ nữ lạ (chưa rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 100.000 đồng.

Đến ngày 24-01-2024, H bị khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Vật chứng thu giữ:

  • Thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu S1 A31, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen; 01 tờ giấy lịch màu trắng có thể hiện các số và chữ viết (phơi đề); 01 cây viết mực màu xanh, hiệu TL-027; số tiền 10.140.000 đồng.
  • 01 điện thoại di động, hiệu OPPO A58, màu xám đen do Phạm Văn L giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu đen do Lâm Thị Đ giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu OPPO, màu xanh do Phạm Thị H1 giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu xanh do Lê Thị V1 giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu OPPO A5, màu đen do Trương Văn C giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu NOKIA 1280, màu đen do Trần Văn Q giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu OPPO A16, màu xanh do Nguyễn Duy H2 giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu OPPO Reno 10, màu xanh do Nguyễn Phước H5 giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu OPPO A31, màu xanh do Trương Thị H4 giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu xanh do Lê Thanh T1 giao nộp; 01 điện thoại di động, hiệu NOKIA, màu trắng đen do Lê Văn H3 giao nộp.

* Căn cứ các Kết luận giám định số 193/KL-KTHS và 199/KL-KTHS ngày 07/02/2024; 194/KL-KTHS và 200/KL-KTHS ngày 10/02/2024; 195/KL-KTHS và 201/KL-KTHS ngày 13/02/2024; 196/KL-KTHS và 202/KL-KTHS ngày 16/02/2024; 197/KL-KTHS và 203/KL-KTHS ngày 19/02/2024; 198/KL-KTHS và 204/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ, chi tiết thể hiện trong Phụ lục và đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng có lời khai phù hợp với nội dung cáo trạng.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTT ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Đánh bạc” theo theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất vụ án, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn H từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”

Về hình phạt bổ sung:

Nhận thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Đề nghị áp dụng Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1 A31, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen thu giữ của bị cáo. Đây là điện thoại bị cáo sử dụng làm công cụ để liên hệ đánh bạc, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền đánh bạc ngày 21-01-2024 là 18.410.000 đồng, tiền thu lợi bất chính 3.600.000 đồng. Tổng cộng là 22.010.000 đồng, đề nghị buộc bị cáo H giao nộp sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 10.140.000 đồng thu giữ từ bị cáo, đề nghị giao Chi cục thi hành án dân sự tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với điện thoại di động, hiệu OPPO A58, màu xám đen do Phạm Văn L giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu đen do Lâm Thị Đ giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO, màu xanh do Phạm Thị H1 giao nộp; điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu xanh do Lê Thị V1 giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO A5, màu đen do Trương Văn C giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA 1280, màu đen do Trần Văn Q giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO A16, màu xanh do Nguyễn Duy H2 giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO Reno 10, màu xanh do Nguyễn Phước H5 giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO A31, màu xanh do Trương Thị H4 giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu xanh do Lê Thanh T1 giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA, màu trắng đen do Lê Văn H3 giao nộp. Qua điều tra, xác định đây là tài sản hợp pháp của những người này, nên trả lại cho họ là phù hợp.

Đối với 01 cây viết mực màu xanh, hiệu TL-027, đây là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với Phạm Thị H1, Nguyễn Duy H2, Trương Văn C, Lê Văn H3, Phạm Văn L, Lâm Thị Đ, Trần Văn Q, Lê Thị V1, Lê Thanh T1, Trương Thị H4, Nguyễn Phước H5 có hành vi đánh bạc nhưng chưa đủ định lượng xử lý hình sự và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt hành chính là có căn cứ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận

Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

  • Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung

Tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Nhận thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra đã thu thập được. Từ đó, đủ cơ sở để kết luận: Trong ngày 21-01-2024, bị cáo Trương Văn H đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức số lô, số đề cho nhiều người cùng tham gia, với tổng số tiền là 18.410.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương và là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác. Hơn nữa, hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền sẽ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, hạnh phúc gia đình mà trước tiên chính là gia đình của bị cáo. Nhưng vì vụ lợi cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả. Vì vậy, cần áp dụng một chế tài hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mới phạm tôi lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có mẹ là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

Do đó, xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội cũng đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.

[4] Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1 A31, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen thu giữ của bị cáo. Đây là điện thoại bị cáo sử dụng làm công cụ để thực hiện hành vi đánh bạc, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền đánh bạc ngày 21-01-2024 là 18.410.000 đồng, tiền thu lợi bất chính 3.600.000 đồng. Tổng cộng là 22.010.000 đồng, buộc bị cáo H giao nộp sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 10.140.000 đồng thu giữ từ bị cáo, tiếp tục giao Chi cục thi hành án dân sự quản lý để đảm bảo thi hành án.

Đối với điện thoại di động, hiệu OPPO A58, màu xám đen do Phạm Văn L giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu đen do Lâm Thị Đ giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO, màu xanh do Phạm Thị H1 giao nộp; điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu xanh do Lê Thị V1 giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO A5, màu đen do Trương Văn C giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA 1280, màu đen do Trần Văn Q giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO A16, màu xanh do Nguyễn Duy H2 giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO Reno 10, màu xanh do Nguyễn Phước H5 giao nộp; điện thoại di động, hiệu OPPO A31, màu xanh do Trương Thị H4 giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu xanh do Lê Thanh T1 giao nộp; điện thoại di động, hiệu NOKIA, màu trắng đen do Lê Văn H3 giao nộp. Qua điều tra, xác định đây là tài sản hợp pháp của những người này, nên trả lại cho họ là có căn cứ.

Đối với 01 cây viết mực màu xanh, hiệu TL-027, đây là vật chứng không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với Phạm Thị H1, Nguyễn Duy H2, Trương Văn C, Lê Văn H3, Phạm Văn L, Lâm Thị Đ, Trần Văn Q, Lê Thị V1, Lê Thanh T1, Trương Thị H4, Nguyễn Phước H5 có hành vi đánh bạc nhưng chưa đủ định lượng xử lý hình sự và nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt hành chính là có căn cứ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Đánh bạc”

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án 22-5-2024 (ngày hai mươi hai tháng năm năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).

Giao bị cáo Trương Văn H cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Trương Văn H ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Căn cứ Điều 46; Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu S1 A31, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 230, màu đen.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây viết mực màu xanh, hiệu TL-027.

Bị cáo Trương Văn H có trách nhiêm nộp số tiền 22.010.000 đồng (Hai mươi hai triệu không trăm mười nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

Giao số tiền 10.140.000 đồng (Mười triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) thu giữ từ bị cáo cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý để đảm bảo thi hành án.

Trả lại điện thoại di động, hiệu OPPO A58, màu xám đen cho Phạm Văn L; trả lại điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu đen cho Lâm Thị Đ; trả lại điện thoại di động, hiệu OPPO, màu xanh cho Phạm Thị H1; trả lại điện thoại di động, hiệu Iphone 11, màu xanh cho Lê Thị V1; trả lại điện thoại di động, hiệu OPPO A5, màu đen cho Trương Văn C; trả lại điện thoại di động, hiệu NOKIA 1280, màu đen cho Trần Văn Q; trả lại điện thoại di động, hiệu OPPO A16, màu xanh cho Nguyễn Duy H2; trả lại điện thoại di động, hiệu OPPO Reno 10, màu xanh cho Nguyễn Phước H5; trả lại điện thoại di động, hiệu OPPO A31, màu xanh cho Trương Thị H4; trả lại điện thoại di động, hiệu NOKIA 105, màu xanh cho Lê Thanh T1; trả lại điện thoại di động, hiệu NOKIA, màu trắng đen cho Lê Văn H3.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-5-2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tri Tôn (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (1);
  • - Cơ quan THAHS, HTTP (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn (1);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (1);
  • - UBND thị trấn Cô Tô;
  • - Bị cáo (1);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ,
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger