|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số:32/2024/HS-ST Ngày: 22/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
Với thành phần hội đồng xét xử ở sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh, ông Nguyễn Tiến Tịnh
Thư ký phiên toà: Ông Lý Khởi Vinh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.
Đại diện VKSND huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 22/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:32/2024/TLST-HS ngày 24/4/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 9/5/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hoàng Q, sinh năm 1989, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT: Bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú hiện tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thăng L (đã chết) và bà Hoàng Thị Kim L1, sinh năm 1945; vợ là Nguyễn Nữ Ngọc Y, sinh năm 1995; có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú– Có mặt.
- Nguyễn Văn S, sinh năm 1983, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1952; vợ là Nguyễn Thị T1, sinh năm 1989; có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
- Trương Lý H, sinh năm 1998, tại tỉnh Đắk Nông; nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú hiện tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Cộng H1, sinh năm 1962 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1956; vợ là Trần Thị H2, sinh năm 2000; có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 06/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T2 (tên gọi khác: Đ1), sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
- Ông Phan Hoài A, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
- Ông Lê Văn Q1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn L3, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đầu tháng 12/2023, Nguyễn Hoàng Q thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ với một đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đặt mua 10 hộp pháo hoa nổ với giá 4.000.000 đồng về để sử dụng trong dịp Tết Nguyên Đán 2024. Sau đó, Nguyễn Hoàng Q nhận được pháo và trả tiền mua pháo thông qua xe khách (chưa xác định được tên nhà xe). Đến giữa tháng 12/2023, do không có tiền tiêu xài nên Q nhờ Nguyễn Văn S tìm người mua để bán lại 10 hộp pháo hoa nổ cho Q thì S đồng ý và liên hệ với Trương Lý H để nhờ H tìm người mua pháo.
Đến ngày 04/01/2024, Nguyễn Văn T2 liên hệ với Trương Lý H để hỏi mua 10 hộp pháo hoa quốc phòng thì H liên hệ với Nguyễn Văn S thì S và Q đồng ý bán với giá 1.200.000 đồng/01 hộp pháo và yêu cầu phải đặt cọc tiền mua pháo. Sau đó, H liên hệ với T2 báo giá 1.330.000 đồng/01 hộp pháo và yêu cầu đặt cọc 2.000.000 đồng thì Nguyễn Văn T2 đồng ý mua và đặt cọc 2.000.000 đồng.
Đến khoảng 17 giờ ngày 05/01/2024, Nguyễn Hoàng Q lấy 01 giỏ nhựa bên trong có 02 bao xác rắn đựng 10 hộp pháo hoa nổ rồi điều khiển xe mô tô biển số 48F4 - 1740 (xe mượn của ông Phan Hoài A), Trương Lý H điều khiển xe mô tô tô biển số 48E1 - 363.09 (xe mượn của ông Lê Văn Q1) chở Nguyễn Văn S đến khu vực lô cao su thuộc bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để giao pháo cho Nguyễn Văn T2. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông phát hiện và bắt quả tang Trương Lý H cùng tang vật (được niêm phong theo quy định của pháp luật), còn Nguyễn Văn S và Nguyễn Hoàng Q bỏ chạy thoát. Ngày 06/01/2024, Nguyễn Hoàng Q và Nguyễn Văn S đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S và Trương Lý H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 27/KL-KTHS, ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 10 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, được niêm phong trong thùng giấy gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 15,670 kilôgam.
Tại Bản cáo trạng số 32/CTr-VKS ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng Quỳnh, Nguyễn Văn S, Trương Lý H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình Sự
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự và nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hoàng Q từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 3 năm đến 4 năm.
Xử phạt Nguyễn Văn S từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng.
Xử phạt Trương Lý H 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng.
Về hình phạt bổ sung: không
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- + Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển số 40E1 - 363.09 và 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 48F4 - 1740 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
- + Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiêu hủy 10 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, được niêm phong trong thùng giấy caton là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 15,670 kilôgam.
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen; 02 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đen là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- + Tịch thu tiêu hủy các sim số 0342534848; 0905172942; 035451012; 0333944997; 01 bao tải màu đỏ; 01 bao tải màu tím; 01 giỏ nhựa nhiều màu sắc là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- + Trả lại 2.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T2 là chủ sở hữu hợp pháp.
Các vấn đề khác: Đối với ông Phan Hoài A và ông Lê Văn Q1 do không biết các bị cáo sử dụng xe mô tô của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đã bán pháo nổ cho Nguyễn Hoàng Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T2 là người đã đặt cọc 2.000.000 đồng để mua pháo của các bị cáo, tại thời điểm bắt quả tang T2 chưa nhận được pháo, bản thân T2 muốn mua pháo quốc phòng, không biết loại pháo H giới thiệu là loại pháo nổ nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà, các bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định: Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại bon Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang Trương Lý H, Nguyễn Văn S và Nguyễn Hoàng Q đang có hành vi buôn bán 15,670 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ).
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Buôn bán hàng cấm" theo khoản 1 Điều 190 BLHS.
Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS.
Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự quy định
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”
[3]. Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm trong đó có pháo hoa nổ. Các bị cáo là công dân có đầy đủ nhận thức, biết rõ hành vi buôn bán pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ, mục đích lợi nhuận nên vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán với khối lượng 15,67kg. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S sau khi bỏ trốn đã đến Công an huyện Đ đầu thú để khai nhận về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Trương Lý H đã có công giúp cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (theo đơn trình báo của Trương Lý H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã phát hiện và bắt quả tang đối tượng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can) có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đề giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Trong vụ án này có 3 bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Hoàng Q là người mua pháo để sử dụng sau đó nhờ bị cáo S tìm người cần mua để bán lại kiếm lời; bị cáo S liên hệ với bị cáo H; S và H đóng vai trò là trung gian liên hệ với người mua, giúp sức cho Q thực hiện việc mua bán pháo hoa nổ. Do đó, khi lượng khung hình phạt cần phân hóa vai trò của từng bị cáo cho phù hợp. Và Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo Q mức hình phạt cao hơn bị cáo S và bị cáo H là phù hợp.
[7] Cân nhắc tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng; có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng; ngoài lần phạm tội này các bị cáo đều chấp hành các chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú. Các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng chế định án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, gia đình cũng đảm bảo được khả năng tự cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội; đồng thời thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- + Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển số 40E1 - 363.09 và 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 48F4 - 1740 cho các chủ sở hữu hợp pháp nên cần chấp nhận.
- + Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiêu hủy 10 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, được niêm phong trong thùng giấy caton là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 15,670 kilôgam là phù hợp nên cần chấp nhận.
- + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen; 02 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đen là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
- + Đối với sim số 0342534848; 0905172942; 035451012; 0333944997; 01 bao tải màu đỏ; 01 bao tải màu tím; 01 giỏ nhựa nhiều màu sắc là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- + Đối với 2.000.000 đồng anh Nguyễn Văn T2 đã đặt cọc để mua pháo. Xét thấy mục đích anh T2 muốn mua pháo hoa quốc phòng, không biết loại pháo các bị cáo bán là pháo hoa nổ, nên cần trả 2.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T2 là phù hợp.
[10] Một số vấn đề khác:
Đối với ông Phan Hoài A và ông Lê Văn Q1 do không biết các bị cáo sử dụng xe mô tô của mình vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đã bán pháo nổ cho bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T2 tại thời điểm bắt quả tang T2 chưa nhận được pháo, bản thân T2 muốn mua pháo quốc phòng, không biết loại pháo H giới thiệu là loại pháo hoa nổ nên không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
-
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Hoàng Q 1 (một) năm 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Văn S 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Trương Lý Hùng 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú trong việc giám sát và giáo dục các bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
- + Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, biển số 40E1 - 363.09 và 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, biển số 48F4 - 1740 cho các chủ sở hữu hợp pháp.
- (Theo biên bản trả lại tài sản ngày 22/01/2024 và 29/02/2024)
- + Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiêu hủy 10 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối đều được bọc bằng giấy nhiều màu sắc, được niêm phong trong thùng giấy caton là pháo nổ (pháo hoa nổ), tổng khối lượng là 15,670 kilôgam.
- (Theo biên bản xử lý vật chứng ngày 12/01/2024)
- + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu samsung màu đen; 02 điện thoại di động nhãn hiệu vivo màu xanh đen.
- + Tịch thu tiêu hủy các sim số 0342534848; 0905172942; 035451012; 0333944997; 01 bao tải màu đỏ; 01 bao tải màu tím; 01 giỏ nhựa nhiều màu sắc.
- + Trả lại 2.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn T2 là chủ sở hữu hợp pháp.
- (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil)
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng Q, Nguyễn Văn S, Trương Lý H mỗi phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thùy Dung |
Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, tại bon Đắk Me, xã Đắk N’Drót, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông bắt quả tang Trương Lý Hùng, Nguyễn Văn Sự và Nguyễn Hoàng Quỳnh đang có hành vi buôn bán 15,670 kilôgam pháo nổ (pháo hoa nổ).
