Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-ST

Ngày 22-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu
  2. Ông Trần Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) và điểm cầu thành phần (Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ), Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh L, sinh năm 1991, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Tổ C, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi ở hiện nay: Không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Thanh H1 (chết) và bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1971; Vợ, con: Không; Tiền án: 01, ngày 14/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 04 năm 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại bản án số 74/2018/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 06/02/2023; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Ngày 22/12/2023; Tạm giam: Ngày 25/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

Bị hại:

  1. Trần Tấn Đ, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Tổ A, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Đoàn Thị Hoàng K, sinh năm 1999 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Tổ 13, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1997 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi thường trú: Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở: Tổ A, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người hỗ trợ phiên tòa:

  1. Đại úy Dương Quốc N – Cán bộ, tổ trưởng.
  2. Hạ sĩ Lê Tuấn A – Chiến sĩ, thành viên.
  3. Hạ sĩ Nguyễn Thuận H3 – Chiến sĩ, thành viên.
  4. Hạ sĩ Huỳnh Duy K1 – Chiến sĩ, thành viên.
  5. Hạ sĩ Phạm Lê T – Chiến sĩ, thành viên.

Là cán bộ, chiến sỹ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Những người hỗ trợ phiên tòa có mặt tại điểm cầu thành phần.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh L là người có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích. Khoảng 20 giờ, ngày 22/5/2023, Nguyễn Minh L một mình điều khiển xe mô tô biển số 66K2 – 3605 từ nhà trọ không nhớ bảng hiệu mà L thuê ở tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đến phòng trọ số B, nhà T, thuộc tổ A, ấp A, xã M, thành phố C là nơi bạn của L tên Nguyễn Thanh H2 thuê ở trọ để chơi với H2. Do không có tiền tiêu xài nên H2 rủ L đi tìm tài sản lấy trộm, L đồng ý và điều khiển xe môtô trên chở H2 ngồi sau, chạy xung quanh thành phố C để tìm tài sản lấy trộm.

Đến khoảng 02 giờ, ngày 23/5/2023, trong lúc L chở H2 đi ngang quán ăn M của Nguyễn Tấn Đ1 tại số B, đường Số B thuộc khóm E, phường A, thành phố C. H2 phát hiện cửa rào bằng lưới B40 trước quán được đóng và khóa, bên trong không có người trông coi, H2 kêu L dừng xe lại trước quán, H2 xuống xe và trèo qua hàng rào vào bên trong quán để tìm tài sản lấy trộm, còn L thì điều khiển xe chạy vòng bên ngoài cảnh giới.

Khi vào bên trong quán M, H2 phát hiện 02 thùng bia nhãn hiệu Heineken, loại 330ml, dưới gầm cầu thang. Cách cầu thang khoảng 03 mét có 01 bàn gỗ, trên bàn gỗ có một tủ ngăn kéo nhỏ bằng kim loại màu đen, ngăn kéo được đóng và khóa lại nhưng có chìa khóa cắm trong ổ khóa. H2 mở khóa và kéo ngăn tủ ra, phát hiện bên trong có số tiền 700.000 đồng, cạnh ngăn tủ kéo có 01 chai nước hoa nhãn hiệu Armaf Club de Nuit, dung tích 150ml, màu đen, đã qua sử dụng. H2 nhặt 01 túi nylon ở gần đó, lấy hết số tiền cùng chai nước hoa để vào túi nylon, cầm trên tay và lấy trộm 02 thùng bia H4 mang tất cả tài sản vừa lấy trộm ra bên ngoài, để 02 thùng bia lên ba ga giữa xe của L và kêu L tìm chỗ bán 02 thùng bia. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, khi L điều khiển xe chở H2 cùng những tài sản vừa trộm được đến khu vực gần cầu X thuộc phường C thành phố C, phát hiện có tiệm tạp hóa không rõ bảng hiệu mở cửa, H2 bảo L dừng xe lại, H2 mang 02 thùng bia vào trong tiệm tạp hóa bán cho 01 người nam khoảng 25 tuổi (không rõ nhân thân) với giá 540.000 đồng. Bán xong, L chở H2 đi ăn uống. Sau đó, L chở H2 về phòng trọ, H2 lấy 200.000 đồng trong số tiền bán 02 thùng bia chia cho L, số tiền còn lại cùng chai nước hoa vừa trộm H2 mang về phòng trọ số 26 nhà trọ Quốc Hội cất giấu và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.

Đến khoảng 23 giờ, ngày 23/5/2023, Nguyễn Minh L tiếp tục đến phòng trọ số 26, nhà T chơi với H2, H2 tiếp tục rủ L đi tìm tài sản lấy trộm, L đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô trên chở H2 đi xung quanh khu vực thành phố C tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 02 giờ, ngày 24/5/2023, khi L điều khiển xe chở H2 đến quán giải khát T1 do chị Đoàn Thị Hoàng K là quản lý, tại địa chỉ số F, đường T, khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, H2 phát hiện quán không người trông coi, phía trước quán có 02 lớp hàng rào (01 lớp rào lưới B40 và 01 lớp tường rào), H2 bảo L dừng xe lại, H2 xuống xe trèo lên cây xanh ở góc và chuyền qua hàng rào để vào khuôn viên quán, còn L đậu xe bên ngoài rào cảnh giới. Khi H2 vào bên trong khuôn viên quán thấy 01 căn nhà tường, cửa trước là cửa sắt, cửa sau là cửa gỗ, cả 02 cửa đều khóa. Hiền kiểm tra phát hiện cửa sau được khóa bằng 02 ổ khóa, H2 trở ra hỏi L có tua vít mở ốc không thì L đưa cho H2 01 thanh kim loại (điếu mở bù lon), trên đầu thanh kim loại được gắn nối tiếp với 01 thanh kim loại dẹp khác, H2 dùng mở ốc vít và cạy được khoen kim loại cửa sau đột nhập vào bên trong quán. H2 nhìn thấy cách cửa sau khoảng 05 mét, có 01 quầy pha chế và thu ngân bằng bê tông, phía trên có đặt 01 cái tủ kính gỗ, bên trong tủ có để 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen và 01 chiếc nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng, cùng với số tiền 3.000.000 đồng, cửa tủ khép lại nhưng không khóa, cạnh tủ kính gỗ trên có 01 ngăn kéo bằng kim loại màu đen, bên trong ngăn kéo chị K để số tiền 1.200.000 đồng, ngăn kéo gắn sẵn chìa khóa nhưng không khóa, H2 mở cửa tủ lấy trộm tổng số tiền là 4.200.000 đồng cùng 02 chiếc điện thoại di động nói trên để vào túi quần bên trái mà H2 đang mặc rồi ra xe cho L điều khiển chở đến Công viên T thuộc phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, H2 lấy 02 cọc tiền ra cùng L kiểm tra và chia cho L 1.500.000 đồng và đưa 02 chiếc điện thoại trên cho L cất giữ, sau đó L chở H2 về phòng trọ số 26 nhà trọ Quốc Hội nghỉ. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H2 điện thoại cho L đem 02 chiếc điện thoại trộm được đến phòng trọ gặp H2. Sau đó, L chở H2 mang theo 02 chiếc điện thoại trên đến tiệm điện thoại di động T thuộc Phường F, thành phố C, để bán cho Võ Quốc T2 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen giá 900.000 đồng và chiếc điện thoại Iphone 7, màu vàng với giá 600.000 đồng, tổng cộng là 1.500.000 đồng. Số tiền bán điện thoại có được là 1.500.000 đồng, cùng với số tiền trước đó sau khi chia cho L còn lại 2.700.000 đồng, tổng cộng 4.200.000 đồng, H2 cất giữ để tiêu xài cá nhân.

Đối với anh Trần Tấn Đ và chị Đoàn Thị Hoàng K, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, anh Đ và chị K đã đến Công an phường A1 trình báo vụ việc ngày 26/5/2023.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 292/KL-HĐĐGTS, ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 chai nước hoa nhãn hiệu Armaf Club Nuit, loại 150ml, màu đen, đã qua sử dụng có giá 950.000 đồng; 02 thùng bia hiệu Heineken loại 330ml/01 lon, có giá 448.333 đồng/thùng, làm tròn: 448.000 đồng x 2 thùng = 896.000 đồng. Như vậy tài sản do H2 và L lấy trộm của anh Đ có giá trị tổng cộng là: 2.546.000 đồng.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 291/KL-HĐĐGTS, ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen (đã qua sử dụng), có giá: 3.166.667 đồng, làm tròn 3.167.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng (đã qua sử dụng), có giá 1.333.333 đồng, làm tròn 1.333.000 đồng. Như vậy tài sản do H2 và L lấy trộm của chị K có giá trị tổng cộng là 8.700.000 đồng.

Vật chứng: Thu giữ của Nguyễn Minh L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu tím, bị bể màn hình (đã qua sử dụng) và 01 xe mô tô biển số 66K2-3605. Quá trình điều tra đã trả lại cho Nguyễn Minh L 01 điện thoại di động nói trên.

Đối với 01 chai nước hoa nhãn hiệu Armaf Club de Nuit, loại 150ml, màu đen, đã qua sử dụng, đã trả lại cho bị hại Trần Tấn Đ. Anh Đ không yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị 02 thùng bia hiệu Heineken bị mất trộm không thu hồi được.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu trắng (đã qua sử dụng), có giá 1.333.000 đồng đã trả lại cho bị hại Đoàn Thị Hoàng K.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Quốc T2, bị hại Trần Tấn Đ không có yêu cầu gì về dân sự đối với vụ án trên không đặt ra xem xét.

Chị Đoàn Thị Hoàng K yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền bị mất trộm là 4.200.000 đồng và giá trị chiếc điện thoại Iphone 8 Plus bị mất không thu hồi được là 3.167.000, tổng cộng là 7.367.000 đồng.

Sau khi gây án, Nguyễn Thanh H2 và L bị khởi tố. H2 đã bị xét xử tại Bản án số 03/2024/HS-ST, ngày 15/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, riêng Nguyễn Minh L đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 21/12/2023, Nguyễn Minh L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng bắt theo Quyết định truy nã số 04/QĐTN-CQĐT ngày 09/8/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C.

Đối với xe mô tô, số máy 00084429, số khung 01021189, biển số 66K2-3605, không có giấy đăng ký, các bị cáo đã sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh xác định:

  • + Số khung 01021189, biển số 66K2-3605 do ông Cao Văn Á, sinh năm 1975, nơi thường trú: Ấp Ba, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu nhưng ông Á đã bỏ địa phương đi cách nay hơn 01 năm, không rõ đi đâu, làm gì. Trong thời gian sinh sống tại địa phương ông Á không có trình báo bị mất tài sản gì.
  • + Số máy 00084429 là của xe mô tô biển số 61F9-5435, do bà Chu Thị O, địa chỉ Số F, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu nhưng hiện tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương không có người tên Chu Thị O.

Ngày 05/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã đăng tin tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng đối với xe mô tô biển số 66K2-3605 đến nay vẫn chưa có ai đến nhận lại tài sản nói trên.

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của những người bị hại, biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường, biên bản nhận dạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 28/CT-VKS-TPCL ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về tội danh: Áp dụng Điều 173 của Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 2 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L với mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Tấn Đ và Đoàn Thị Hoàng K không yêu cầu bị cáo bồi thường những tài sản bị cáo trộm cắp, chưa thu hồi được và không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên; Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Minh L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-TPCL ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người bị hại, biên bản, sơ đồ, bản ảnh dựng lại hiện trường, biên bản nhận dạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Minh L là người có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản: Vào khoảng 02 giờ, ngày 23/5/2023, tại quán ăn M thuộc khóm E, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo L cùng Nguyễn Thanh H2 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Trần Tấn Đ gồm: 01 chai nước hoa nhãn hiệu Arma Club Nuit, 02 thùng bia nhãn hiệu Heniken và số tiền 700.000 đồng, tổng giá trị 2.546.000 đồng. Đến khoảng 02 giờ, ngày 24/5/2023, tại quán G thuộc khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo L tiếp tục cùng Nguyễn Thanh H2 trộm cắp tài sản của chị Đoàn Thị Hoàng K gồm: 01 điện thoại Iphone 7, 01 điện thoại Iphone 8 Plus và số tiền 4.200.000 đồng, tổng giá trị là 8.700.000 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản H2 và L trộm cắp là 11.246.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Khi thực hiện tội phạm, bị cáo là người đã thành niên, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đáng lẻ ra, khi bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 04 năm 09 tháng tù, trong đó 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 51/2018/HSST ngày 18/9/2018 và 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 74/2018/HSST ngày 14/11/2018, thì bị cáo phải biết sửa đổi và chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật. Nhưng ngược lại, xuất phát từ việc xem thường pháp luật, muốn có tiền mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác, bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và tội phạm đã hoàn thành.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Minh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...".

  1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đặc biệt thời gian gần đây, tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và tội phạm trộm cắp tài sản nói riêng ngày càng tăng, gây thiệt hại về tài sản, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết và cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, nhằm để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho xã hội. Đồng thời góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
  2. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  3. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và truy tố bị hại Đoàn Thị Hoàng K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị mất trộm là 4.200.000 đồng và giá trị chiếc điện thoại Iphone 8 Plus bị mất không thu hồi được là 3.167.000 đồng, tổng cộng là 7.367.000 đồng. Tai văn bản ý kiến và Đơn xin vắng mặt cùng ngày 09/4/2024, bị hại Đoàn Thị Hoàng K không yêu cầu bị cáo bồi thường những tài sản bị cáo trộm cắp, chưa thu hồi được và không yêu cầu gì. Bị hại Trần Tấn Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường những tài sản bị cáo trộm cắp, chưa thu hồi được và không yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét.
  5. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, màu nâu, số khung 01021189, số máy 00084429, biển số 66K2-3605, đã qua sử dụng, không có giấy đăng ký, là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2024).

  1. Về tư cách tham gia tố tụng của Võ Quốc T2: Trong vụ án này, tuy anh T2 là chủ tiệm mua bán điện thoại di động Thịnh Phát 2, đã mua 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen giá 900.000 đồng và 01 điện thoại Iphone 7, màu vàng với giá 600.000 đồng, tổng cộng là 1.500.000 đồng do Nguyễn Thanh H2 bán, anh T2 không biết tài sản trên là do H2 thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có và hiện chiếc điện thoại Iphone 8 Plus đã bán cho người lạ không thu hồi được, anh T2 cũng đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 điện thoại Iphone 7 còn lại. Người bị hại Đoàn Thị Hoàng K không yêu cầu bị cáo L bồi thường đối với điện thoại Iphone 8 Plus. Đồng thời anh T2 không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại đối với bị cáo L, anh T2 cũng không yêu cầu gì trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần đưa anh Võ Quốc T2 vào tham gia tố tụng trong vụ án này.

[8] Các vấn đề khác:

  • - Đối với Nguyễn Thanh H2 cùng thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản cùng với bị cáo, ngày 15/01/2024 Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 03/2024/HSST.
  • - Đối với ông Võ Quốc T2 là chủ tiệm mua bán điện thoại di động Thịnh Phát 2, khi mua 02 chiếc điện thoại từ Nguyễn Thanh H2, ông T2 không biết tài sản trên là do H2 thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có và hiện chiếc điện thoại Iphone 8 Plus đã bán cho người lạ không thu hồi được, T2 cũng đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại Iphone 7 còn lại nên không có căn cứ xử lý ông T2 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
  1. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố Cao Lãnh về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/12/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, màu nâu, số khung 01021189, số máy 00084429, biển số 66K2-3605, đã qua sử dụng.

(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2024).

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Minh L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 32/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger