Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2024/HS-PT

Ngày: 22 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương.

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ và bà Đỗ Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 và 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị T, sinh ngày 15/8/1970; Nơi cư trú: thôn V, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức L (đã chết) và bà Phạm Thị T1 (đã chết); Có chồng là Nguyễn Văn D và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, được triệu tập có mặt tại phiên tòa.

Bị hại không có kháng cáo:

  1. Cháu Phạm Hồng A, sinh ngày 25/8/2005. Đại diện hợp pháp của cháu Hồng A: Chị Phạm Thị Hồng G, sinh năm 1982. Đều cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
  2. Cháu Phạm Mai Phương L1, sinh ngày 17/6/2007. Đại diện hợp pháp của cháu Phương L1: Anh Phạm Thanh S, sinh năm 1972. Đều cư trú tại thôn K, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Cháu Hồng A, chị G có đơn xin vắng mặt; cháu L1, anh S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 23/11/2022, Nguyễn Thị T (người không có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô đi từ nhà ra Quốc lộ C thuộc địa phận xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Lúc này do có các phương tiện tham gia giao thông đi theo hướng huyện T đi huyện Đ nên T điều khiển xe mô tô đi áp sát lề đường bên trái (theo chiều đi của T hướng huyện Đ đi huyện T) đề chờ sang đường bên phải. T điều khiển xe đi bên trái được khoảng 100m đến KM87+650 Quốc lộ C, thuộc địa phận xã Đ, huyện Đ, mặc dù lúc này quan sát thấy phía trước ngược chiều với mình vẫn có các phương tiện tham gia giao thông đi đến nhưng T không dừng xe mô tô lại để nhường đường cho các phương tiện mà T bật xi nhan phải xe mô tô đồng thời chuyển hướng từ bên trái đường đi sang bên phải đường theo chiều đi để sang đường (hướng huyện T). Lúc này, cháu Phạm Hồng A điều khiển xe máy điện chở phía sau cháu Phạm Mai Phương L1 đang trên đường đi học theo hướng xã Đ đi trường T2, xã Đ, huyện Đ đi đến nên đã xảy ra tai nạn, phần đầu xe mô tô do T điều khiển đã va chạm xe máy điện do cháu Hồng A điều khiển dẫn đến hai xe bị ngã ra đường. Hậu quả cháu Hồng A ngã đập đầu xuống đường bị chấn thương sọ não, cháu L1 bị xây xát nhẹ ở bàn tay phải và chân trái (cháu L1 từ chối giám định).

Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 2236/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của V, Bộ C kết luận về tỷ lệ thương tích của cháu Phạm Hồng A: “Đối chiếu Bảng 1 - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hàng kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Hồng A tại thời điểm giám định bổ sung là 61%”

Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Về áp dụng luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo T chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ và Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải bồi thường cho cháu Phạm Hồng A các khoản tiền thuốc điều trị, chi phí khám chữa bệnh, bồi thường tổn thất tinh thần và bồi dưỡng sức khỏe với số tiền 109.365.382 đồng, trừ đi số tiền bị cáo T đã bồi thường 15.000.000 đồng, bị cáo T còn phải bồi thường số tiền 94.365.382 đồng.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/02/2024, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Thị T đã gây ra, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng cũng như nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định là hợp lệ, nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm. Cụ thế, ngày 23/11/2022, Nguyễn Thị T đã có hành vi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 107cm³ mặc dù bản thân không có giấy phép lái xe mô tô, khi chuyển hướng sang đường không tuân thủ luật giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, dẫn đến va chạm với xe máy điện do cháu Phạm Hồng A điều khiển, chở phía sau là cháu Phạm Mai Phương L1. Hậu quả cháu Phạm Hồng A bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo giám định là 61%, cháu L1 bị xây xát nhẹ ở bàn tay phải và chân trái. Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị T đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8, khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Với mức độ gây thương tích tổn hại sức khỏe của cháu Phạm Hồng A là 61%, bị cáo lại không có giấy phép lái xe, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường số tiền 15 triệu đồng cho cháu Phạm Hồng A khắc phục một phần hậu quả. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để xử phạt bị cáo 03 năm tù là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm không phát sinh tình tiết nào mới, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo mà cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4] Xét kháng cáo xin giảm mức bồi thường của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra tiến hành quản lý những hóa đơn, chứng từ, phiếu thu hợp lệ có liên quan đến quá trình điều trị của cháu Phạm Hồng A tại các cơ sở y tế với tổng chi phí điều trị là 79.365.382 đồng. Bên cạnh đó, đại diện hợp pháp của bị hại Phạm Hồng A yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất về tinh thần số tiền 15.000.000 đồng và tiền bồi dưỡng sức khỏe 15.000.000 đồng, căn cứ Điều 7 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đây là những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị giảm sút của bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận tổng số tiền bị hại yêu cầu là 109.365.385 đồng là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm mức bồi thường thiệt hại của bị cáo.

[5] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

  1. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ và Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải bồi thường cho cháu Phạm Hồng A các khoản tiền thuốc điều trị, chi phí khám chữa bệnh, bồi thường tổn thất tinh thần và bồi dưỡng sức khỏe với số tiền 109.365.382 đồng, bị cáo T đã bồi thường 15.000.000 đồng, bị cáo T còn phải bồi thường số tiền 94.365.382 đồng.
  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 BLTTHS; điểm b khoản 2 Điều 23; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TA, VKS, THADS huyện Đông Hưng;
  • - Bị cáo; bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 32/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger