|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/DS-ST Ngày 21/8/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đăng Thanh.
2. Ông Ninh Văn Trung
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 21/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-DS ngày 12/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QÐST - DS ngày 08/7/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 46/2024/QÐST-DS ngày 30/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Linh Văn H, sinh năm 1984 và chị Nghiêm Thị L, sinh năm 1986
Đều địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Anh Linh Văn H uỷ quyền cho chị Nghiêm Thị L tham gia tố tụng) (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T – Luật sư của Công ty L3 (Có mặt)
Địa chỉ: Số E, đường L, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Chu Văn T1, sinh 1990 và chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991 (Đều vắng mặt)
Đều địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người làm chứng: Anh Chu Đức T2, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L đều trình bày:
Vợ chồng anh, chị và vợ chồng anh T1, chị H1 có quen biết là bạn bè xã hội cùng xóm với nhau. Ngày 30/11/2022 vợ chồng anh T1, chị H1 có xuống nhà gia đình anh, chị hỏi vay tiền, cụ thể việc vay như sau:
Ngày 30/11/2022, vợ chồng anh T1, chị H1 có vay vợ chồng anh H, chị L số tiền gốc là 500.000.000 đồng, đến ngày 05/12/2022 vợ chồng anh T1, chị H1 có trả cho vợ chồng anh chị số tiền gốc là 100.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 400.000.000 đồng. Sau đó, hai bên có lập giấy vay tiền ghi ngày 05/12/2022 và có chữ ký của vợ chồng anh T1, chị H1 vào người vay, hai bên có thoả thuận lãi suất theo lãi suất ngân hàng, mục đích vay: Vợ chồng anh T1, chị H1 vay để mua xe tải để chạy hàng. Khi vay hai bên có thoả thuận thời gian trả nợ là ngày 25/6/2023 (dương lịch) vợ chồng anh T1, chị H1 sẽ trả nợ. Tuy nhiên đến thời hạn thanh toán, vợ chồng anh H, chị L có đề nghị vợ chồng anh T1, chị H1 trả khoản nợ trên nhưng vợ chồng anh T1, chị H1 chưa thanh toán cho vợ chồng anh H, chị L được khoản gốc nào.
Nay anh H, chị L đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giải quyết buộc vợ chồng anh T1, chị H1 phải trả cho vợ chồng anh, chị tổng số tiền là 426.400.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn) và lãi tạm tính đến ngày 25/12/2023 là 26.400.000 đồng. Vợ chồng anh T1, chị H1 còn phải tiếp tục chịu lãi đến khi vợ chồng anh T1, chị H1 thanh toán hết nợ cho vợ chồng anh chị cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc. Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đã thống nhất việc anh T1, chị H1 đã trả cho anh H, chị L tổng số tiền lãi là 34.200.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai bị đơn chị Nguyễn Thị H1 trình bày: Anh T1 là chồng chị, anh T1 với vợ chồng anh H, chị L là bạn bè xã hội làm ăn với nhau. Đối với việc vay tiền giữa chồng chị và anh H, chị L như sau: Anh H có nói với chị là anh H cắm xe để cho chồng chị là anh T1 vay tiền. Ngày 05/12/2022, anh T1 có lập giấy vay tiền, khi lập giấy vay tiền có chị, anh T1, anh H, chị L và anh T2 (anh trai anh T1) cùng có mặt. Khi lập biên bản hai bên có thoả thuận ghi vào giấy vay tiền là chồng chị là anh Chu Văn T1 có vay của vợ chồng anh H, chị L số tiền 500.0000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), hai bên có thoả thuận về lãi suất như lãi suất ngân hàng, hai bên có thoả thuận ngày trả là ngày 25/6/2023 sẽ thanh toán hết số tiền trên. Cùng ngày 05/12/2022, chị có đứng ra trả cho vợ chồng anh H, chị L số tiền 100.000.000 đồng tiền gốc. Do làm ăn khó khăn nên chị và anh T1 chỉ trả được lãi hàng tháng là 28.240.000 đồng, anh trai anh T1 là anh T2 có trả hộ được 10.000.000 đồng tiền lãi. Đối với số tiền gốc là 400.000.000 đồng thì vợ chồng anh chị chưa trả được. Nay anh H, chị L khởi kiện buộc chị và chồng là anh T1 phải trả trả số tiền 400.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh chị có nguyện vọng như sau: Do anh T1 đi làm ăn xa không liên lạc được, chị còn nuôi 02 con nhỏ, kinh tế khó khăn nên hiện tại chưa có khả năng trả khoản nợ trên nên chị mong anh H, chị L chờ anh T1 về thì vợ chồng anh chị cùng nhau trả nợ. Hiện nay anh Chu Văn T1 đi làm ăn xa còn cụ thể làm gì, ở đâu thì chị không rõ, anh T1 cũng không liên lạc gì về với gia đình, anh đi vào thời gian cụ thể nào thì chị cũng không nhớ. Hiện anh Chu Văn T1 vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang chưa chuyển khẩu đi đâu. Quá trình giải quyết vụ án chị H1 xác định chị và anh T1 đã trả cho anh H chị L số tiền lãi là 34.200.000 đồng (ba mươi tư triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại biên bản lấy lời khai anh Chu Văn T3 trình bày: Anh là anh trai của anh Chu Văn T1, ngày 05/12/2022, anh có chứng kiến việc anh T1 viết giấy vay nợ với vợ chồng anh H, chị L, cụ thể: Anh H có vay của vợ chồng anh H, chị L số tiền 500.000.000 đồng, ngay sau đó, chị H1 là vợ anh T1 có trả cho vợ chồng anh H, chị L số tiền 100.000.000 đồng tiền gốc. Khi vay hai bên có thoả thuận về lãi suất theo lãi suất ngân hàng. Mục đích vay: Để mua lại xe của anh H. Khi vay, anh có ký vào phần người làm chứng, anh H, chị L ký vào người cho vay, anh T1, chị H1 ký vào người vay. Hai bên có thoả thuận ngày trả là ngày 25/6/2023. Trong quá trình trả nợ, do vợ chồng anh T1, chị H1 làm ăn khó khăn nên anh đứng ra trả cho vợ chồng T1, H1 số tiền 10.000.000 đồng tiền lãi. Anh xác định số tiền này là tiền cá nhân của anh cho em trai anh là Chu Văn T1 và Nguyễn Thị H1 để trả nợ, anh không yêu cầu anh T1 chị H1 phải trả số tiền này cho anh và anh cũng không có đề nghị gì đối với số tiền này, anh xin từ chối tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do anh cũng có công việc bận thường xuyên đi làm ăn xa và một số lý do khách quan nên anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc tại Toà án, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như các phiên toà xét xử vụ án trên.
Tại biên bản xác minh ngày 22/01/2024, ông Nghiêm Văn L1 (trưởng thôn thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang) cung cấp: Anh Chu Văn T1, sinh năm 1990, trú quán thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang hiện không có mặt tại địa phương, anh T1 vắng mặt từ tháng 7/2022 đến nay địa phương không rõ anh T1 đi đâu, làm gì và ở đâu vì không báo cáo chính quyền địa phương.
Tại biên bản xác minh ngày 22/01/2024, ông Lê Văn M là Công an xã Đ cung cấp: Anh Chu Văn T1, sinh năm 1990, hiện vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, chưa chuyển khẩu đi đâu. Hiện nay T1 không có mặt tại địa phương đi đâu làm gì địa phương không rõ vì không báo chính quyền địa phương.
Tại biên bản xác minh ngày 05/4/2024, ông Chu Văn C là bố đẻ anh Chu Văn T1 cung cấp: Anh Chu Văn T1 là con trai ông, hiện không có mặt tại địa phương, ông cũng không biết anh T1 đi đâu làm gì. Trước khi đi, anh T1 chỉ bảo đi làm để trả nợ, còn cụ thể đi đâu thì anh T1 không nói. Còn đối với việc vay mượn giữa anh H, chị L với anh T1, chị H1 ông không biết và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
ieHieenfHieHhIE
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã có đơn đề nghị Toà án đăng tin, phát tin trên B về việc anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L đang có đơn khởi kiện anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 tại Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tuy nhiên anh T1 vẫn không có mặt theo thông báo.
Tại phiên toà chị Nghiêm Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị xác định anh có cho vợ chồng anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 vay số tiền là 400.000.000 đồng vào ngày 05/12/2022 (dương lịch). Nay chị đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh vợ chồng anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả vợ chồng chị số tiền là 400.000.000 đồng tiền gốc và lãi suất theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng là 0.75%/tháng tính từ ngày 05/12/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 21/8/2024) là 61.6000.000 đồng, trừ đi số tiền anh T1, chị H1 đã trả là 34.200.000 đồng, còn lại số tiền lãi là 27.400.000 đồng chị yêu cầu anh T1, chị H1 trả số tiền lãi đến ngày xét xử được làm tròn thành 27.000.000 đồng. Chị và anh H xin chịu toàn bộ lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng.
Bị đơn chị Nguyễn Thị H1, người làm chứng anh Chu Văn T3 đều vắng mặt tại phiên toà có đơn xin vắng mặt, anh T1 đã được Toà án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án đã công bố lời khai của chị H1, anh T3 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự; Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn là chị H1 chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh T1 chưa chấp hành nghiêm chỉnh về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 463; Điều 466; Điều 468, Điều 470; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 229; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L: Buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L tổng số tiền là 427.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi bẩy triệu đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn) và 27.000.000 đồng (Hai mươi bẩy triệu đồng) tiền lãi.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
- Về án phí và lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng:
- Về án phí: Buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 chịu số tiền án phí là 21.080.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L số tiền 10.528.000 đồng anh chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số 0005924 ngày 12 tháng 01 năm 2024.
- Về lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng: Chị Nghiêm Thị L và anh Linh Văn H phải chịu 3.000.000 đồng tiền lệ phí đăng thông báo trên B1 và Đ. Xác nhận chị L, anh H đã nộp đủ theo phiếu thu số 17.05/2024 ngày 08/5/2024 của Ban đối ngoại VOV5 Đ và Hoá đơn giá trị gia tăng số 00000987 ngày 09/5/2024 của Báo Công lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L có cho vợ chồng anh Chu Văn T1, sinh năm 1990 và chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1991, đều trú tại thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang vay là 400.000.000 đồng, hai bên thoả thuận theo lãi suất ngân hàng và hẹn tháng 26/5/2023 sẽ hoàn trả lại số tiền vay trên. Đã quá thời hạn thanh toán, anh H, chị L đã đòi nhiều lần nhưng anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 chưa trả được số tiền gốc nào. Nay anh H, chị L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả cho anh H, chị L số tiền 400.000.000 đồng tiền gốc và lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng là 0.75%/tháng tính từ 05/12/2022 đến ngày 21/8/2024 là 61.600.000 đồng, trừ đi số tiền anh T1, chị H1 đã trả là 34.200.000 đồng, còn lại số tiền lãi là 27.400.000 đồng và làm tròn thành 27.000.000 đồng và anh T1, chị H1 còn phải tiếp tục chịu lãi đến khi anh T1, chị H1 thanh toán hết nợ cho anh H, chị L. Do vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn chị Nguyễn Thị H1 và người làm chứng anh Chu Văn T3 vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Chu Văn T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Toà án cũng đã thông báo trên B1 và Đ cho anh Chu Văn T1 được biết. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Qua xác nhận của người thân của anh Chu Văn T1 cũng như chính quyền địa phương thì hiện anh Chu Văn T1 vẫn cư trú tại thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, hiện nay anh Chu Văn T1 địa chỉ cụ thể ở đâu gia đình, địa phương không rõ. Anh Chu Văn T1 cũng không cung cấp địa chỉ, nơi ở, nơi làm việc hiện nay cho anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L biết. Theo Công văn số 7515/QLXNC – P3 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Cục Q về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh đối với anh Chu Văn T1 thì thấy anh Chu Văn T1 không có thông tin xuất nhập cảnh. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, khoản 3 Điều 39, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự được xem là anh Chu Văn T1 cố tình giấu giếm địa chỉ. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Chu Văn T1, chị Nguyễn Thị H1 và anh Chu Văn T3 theo thủ tục chung.
[2] Xét hợp đồng vay tài sản giữa anh Linh Văn H, chị Nghiêm Thị L với anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 thì thấy: Việc vay mượn đã được anh Linh Văn H, chị Nghiêm Thị L với anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 ký kết trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, mục đích và nội dung giao kết không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội vì vậy hợp đồng vay tài sản giữa anh Linh Văn H, chị Nghiêm Thị L với anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 ngày 05/12/2022 là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật.
[3] Xét yêu cầu, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc:
Căn cứ vào giấy vay tiền ngày 05/12/2022, anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L khởi kiện đòi anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 số tiền là 400.000.000 đồng tiền gốc. Hội đồng xét xử xét thấy như nhận định ở trên, hợp đồng vay tài sản giữa anh Linh Văn H, chị Nghiêm Thị L với anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 là hợp pháp, có chữ ký của anh T1, chị H1 vào phần người vay. Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự là phù hợp với nhau. Do đó có đủ căn cứ xác định anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 có vay của anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L số tiền 400.000.000 đồng, hai bên thoả thuận đến tháng 25/6/2023 sẽ trả. Tuy nhiên hết thời gian trả nợ, anh H, chị L đòi anh T1, chị H1 nhiều lần nhưng anh T1, chị H1 mới trả 34.200.000 đồng tiền lãi, do vậy anh H, chị L đã làm đơn khởi kiện anh T1, chị H1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh T1, chị H1 phải trả số tiền 400.000.000 đồng tiền gốc là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L: Buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L số tiền gốc là 400.000.000 đồng.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu thanh toán tiền nợ lãi:
Tại giấy vay tiền đề ngày 05/12/2022, các bên có thoả thuận về lãi suất là theo lãi suất ngân hàng. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất theo lãi suất cơ bản của ngân hàng là 0.75%/tháng tính từ ngày 05/12/2022 đến ngày 21/8/2024 là 61.6000.000 đồng, trừ đi số tiền anh T1, chị H1 đã trả là 34.200.000 đồng, còn lại số tiền lãi là 27.400.000 đồng làm tròn thành 27.000.000 đồng. Việc yêu cầu tính lãi này của anh H, chị L là phù hợp với thỏa thuận của các bên, phù hợp với hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó cần chấp nhận yêu cầu về thanh toán lãi của anh H, chị L, buộc anh T1, chị H1 phải trả anh H, chị L số tiền lãi là 27.000.000 đồng.
Từ những nhận định trên cần buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L tổng số tiền là 427.000.000 đồng (Bốn trăm hai bẩy triệu đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn) và tiền lãi tính đến ngày xét xử là 27.000.000 đồng (Hai mươi bẩy triệu đồng). Anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 còn phải trả tiếp tiền lãi theo thỏa thuận cho đến ngày thanh toán hết số tiền cho anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L.
[4] Về án phí và lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng:
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải chịu số tiền án phí là 21.080.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L số tiền 10.528.000 đồng anh chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số 0005924 ngày 12 tháng 01 năm 2024.
Về lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng: Chị Nghiêm Thị L và anh Linh Văn H phải chịu số tiền lệ phí đăng thông báo trên B1 và Đ. Xác nhận chị L, anh H đã nộp đủ theo phiếu thu số 17.05/2024 ngày 08/5/2024 của Ban đối ngoại VOV5 và Hoá đơn giá trị gia tăng số 00000987 ngày 09/5/2024 của Báo Công lý. Do vậy cần ghi nhận sự tự nguyện này của anh H, chị L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 117; Điều 119; Điều 463; Điều 466; Điều 468, Điều 470; Khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, điểm h khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 180; Điều 227; Điều 228; Điều 229; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L: Buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 phải trả anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L tổng số tiền là 427.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi bẩy triệu đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng chẵn) và 27.000.000 đồng (Hai mươi bẩy triệu đồng) tiền lãi.
- Về án phí và lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng:
- Về án phí: Buộc anh Chu Văn T1 và chị Nguyễn Thị H1 chịu số tiền án phí là 21.080.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Linh Văn H và chị Nghiêm Thị L số tiền 10.528.000 đồng anh chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số 0005924 ngày 12 tháng 01 năm 2024.
- Về lệ phí đăng trên phương tiện thông tin đại chúng: Chị Nghiêm Thị L và anh Linh Văn H phải chịu 3.000.000 đồng tiền lệ phí đăng thông báo trên B1 và Đ. Xác nhận chị L, anh H đã nộp đủ theo phiếu thu số 17.05/2024 ngày 08/5/2024 của Ban đối ngoại VOV5 Đ và Hoá đơn giá trị gia tăng số 00000987 ngày 09/5/2024 của Báo Công lý.
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Văn Thể |
Bản án số 32/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 32/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H và T tranh chấp hợp đồng vay TS
