Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 32 /2023/HNGĐ-ST

Ngày 21 tháng 8 năm 2023

“Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Hồng

Phượng và anh Nguyễn Trung Dũng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Ngọc Thịnh
  • Ông Nguyễn Xuân Minh

Thư ký phiên toà: Ông Tô Việt Anh – Thư ký Toà án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Huyền Trang – Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc: “Ly hôn”;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2023/QĐXX-TA ngày 25 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 126/2023/QÐST-DS ngày 15/8/2023 giữa các đương sự:

  • + Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng P, sinh năm 1991;
  • CCCD số [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 15/4/2021; Nơi cư trú: TDP Đ, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên toà;
  • + Bị đơn: Anh Nguyễn Trung D, sinh năm 1990;
  • CMND số [...] do Công an Thành phố H cấp ngày 28/8/2012;
  • Nơi cư trú: Số C ngõ A B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/4/2023, bản tự khai và những lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Hồng P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Trung D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, quận H, thành phố Hà Nội ngày 22/11/2017. Quá trình chung sống được một thời gian ngắn đến năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cách sống, lối sống không phù hợp, anh D sống thiếu trách nhiệm, không quan tâm chăm sóc vợ con, không trợ giúp gì về kinh tế trong gia đình, mọi việc chi tiêu trong gia đình đều do một tay chị gánh vác. Vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, cả hai đã sống ly thân từ đầu năm 2019, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm tới ai. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn, không có biện pháp để đoàn tụ gia đình, chị đề nghị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm sớm giải quyết cho chị được ly hôn với anh D để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 10/5/2019. Hiện nay cháu A đang ở cùng với chị. Chị P có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh D phải đóng góp tiền nuôi con chung.

Hiện nay chị P không mang thai, không có con chung, con riêng, con nuôi nào khác.

Về tài sản chung, nhà đất ở chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị P tự nguyện chịu toàn bộ.

[2] Đối với bị đơn anh Nguyễn Trung D:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho bị đơn anh Nguyễn Trung D (do bà Nguyễn Hồng T, sinh năm 1965 là mẹ đẻ ở cùng địa chỉ với anh D nhận và cam kết giao cho anh D), tuy nhiên anh Nguyễn Trung D không giao nộp văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ (nếu có), không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật.

[3] Tại phiên toà,

Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh D để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 10/5/2019. Khi ly hôn, chị P đề nghị được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh D phải đóng góp tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Cụ thể: Toà án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền; Thực hiện đúng các thủ tục tố tụng; Việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên toà sơ thẩm, về điều khiển phiên toà; Bị đơn không thực hiện đúng các quy định, các quyền trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xử cho chị Nguyễn Hồng P được ly hôn với anh Nguyễn Trung D; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bình A, sinh ngày 10/5/2019 cho chị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D;

Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Không xem xét giải quyết;

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

  • - Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Hồng P có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Trung D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Số C ngõ A B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
  • - Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bị đơn anh Nguyễn Trung D đã được Toà án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

[2] Về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn:

  • - Về tình cảm: Xét thấy, chị Nguyễn Hồng P và anh Nguyễn Trung D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Thành phố Hà Nội ngày 22/11/2017 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, kinh tế vợ chồng chưa tự lập. Cả hai đã không còn quan hệ tình cảm, sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, chị P đã về nhà bố mẹ đẻ ở, không ai quan tâm đến ai nữa.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Trung D, nhưng anh D không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ (nếu có), không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật, không có mặt tại Toà án để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định pháp luật. Xác minh tại địa phương nơi cư trú, được địa phương xác nhận vợ chồng chị P, anh D đã sống ly thân, mỗi người một nơi, hiện tại anh Nguyễn Trung D vẫn đang sống cùng bố mẹ tại địa chỉ Số C ngõ A B, phường C, quận H, Thành phố Hà Nội;

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”.

Xét cả hai đã không còn tình cảm, quan tâm tới nhau, không còn chung sống với nhau nhiều năm nay. Điều này cho thấy quan hệ hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và để tạo điều kiện cho các bên ổn định cuộc sống riêng, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn của chị P đối với anh D.

  • - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Bình A, sinh ngày 10/5/2019. Hiện cháu đang sống cùng chị P. Tại Toà án, chị P đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu anh D phải đóng góp tiền nuôi con chung.

Theo quy định của pháp luật, việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, đảm bảo việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con chưa thành niên.

Xét thấy, cháu Nguyễn Bình A còn nhỏ (hơn 04 tuổi), hiện đang ăn ở, sinh hoạt ổn định với chị P. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm: Giao cháu Nguyễn Bình A cho chị Nguyễn Hồng P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  • - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh D.
  • - Về tài sản chung, nhà đất ở, công nợ chung: Toà án không xem xét.
  • - Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 17, 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Xử:

  • [1] Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Hồng P với anh Nguyễn Trung D.
  • [2] Chị Nguyễn Hồng P được ly hôn với anh Nguyễn Trung D.
  • [3] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Bình A, sinh ngày 10/5/2019. Giao cháu Nguyễn Bình A cho chị Nguyễn Hồng P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
  • Ghi nhận sự tự nguyện của chị P không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm miễn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Trung D kể từ tháng 8/2023 đến khi có sự thay đổi khác.
  • Anh Nguyễn Trung D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • [4] Về tài sản chung; nhà, đất ở; công nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  • [5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Hồng P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0052310 ngày 12/5/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm.
  • [6] Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Các đương sự
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 32/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và Gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger