|
TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2024/HNGĐ - ST Ngày: 21-6-2024 V/v ly hôn. |
---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
----------------
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bình; bà Dương Thị Thắm.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 21/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 66/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 04/6/2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị H - Sinh năm 1974 – Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn T - Sinh năm 1968 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh T tự nguyện về chung sống với nhau vào khoảng tháng 11 năm 1990, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, anh T còn có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.
Về con: Vợ chồng chị có 02 con chung là Trần Văn T1 - sinh ngày 25/11/1991 và Trần Thị T2 - sinh ngày 13/10/1995. Hiện tại các cháu đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 09/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị H cưới nhau ngày 16/11/1990 trên cơ sở tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2011 chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, mấy tháng đầu, chị H có liên lạc với anh nhưng sau đó thì không thấy liên lạc gì nữa. Đến năm 2023, chị H trở về nước nhưng hai vợ chồng cũng không gặp nhau và cũng không trò chuyện với nhau, anh không biết nguyên nhân tại sao. Sau đó, chị H gọi điện cho anh yêu cầu ly hôn. Vợ chồng anh sống ly thân nhau từ năm 2011 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.
Về con: Vợ chồng anh có 02 con chung như chị H trình bày, hiện các cháu đã trưởng thành nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Hoàng Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Trần Văn T có địa chỉ tại thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.
[2] Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị H và anh Trần Văn T chung sống với nhau như vợ chồng và có tổ chức cưới theo phong tục truyền thống vào năm 1990, không có đăng ký kết hôn. Anh, chị chung sống với nhau đến năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh T còn có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác. Còn theo anh T là do năm 2010 chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, mấy tháng đầu, chị H có liên lạc với anh nhưng sau đó thì không thấy liên lạc gì nữa và đến năm 2023 chị H về nước yêu cầu ly hôn anh. Chị H và anh T sống ly thân nhau từ năm 2011 đến nay, không còn quan tâm đến nhau.
Như vậy, cả chị H và anh T đều thừa nhận anh, chị chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Mặt khác, khi nộp đơn khởi kiện chị H có nộp 01 đơn xin xác nhận không đăng ký kết hôn, Ủy ban nhân dân xã N đã xác nhận: Anh T và chị H năm 1990 không đăng ký kết hôn tại xã N Theo khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật HNGĐ và khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình, cần xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là vợ chồng.
[3] Về con chung: Chị H và anh T đều thừa nhận có 02 con chung là Trần Văn T1 - sinh ngày 25/11/1991 và Trần Thị T2 - sinh ngày 13/10/1995. Hiện các cháu đã đến tuổi trưởng thành, chị H và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.
[4] Về tài sản và nợ chung: Chị H và anh T không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Hoàng Thị H và anh Trần Văn T là vợ chồng.
2. Về án phí: Chị Hoàng Thị H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005306 ngày 10/4/2024 của Chi cục THADS huyện N; chị H đã nộp đủ tiền án phí DSST.
3. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thủy |
Bản án số 32/2024/HNGĐ - ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 32/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị H và anh Trần Văn T
