Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08 – 12 - 2025

V/v ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Trọng Thủy

2. Ông Thái Thiên Lương

- Thư ký phiên tòa:

Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị tham gia phiên tòa:

Bà Cao Mỹ Giang – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2025/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐHPT-DSST ngày 21/11/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Lưu H, sinh năm 1995.

Nơi cư trú: K N, tổ D, phường S, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).

Bị đơn: Chị Mai Thị Hoài D, sinh năm 1993

Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 20 tháng 7 năm 2025, bản tự khai ngày 13 tháng 8 năm 2025 và tại phiên tòa anh Trần Lưu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Mai Thị Hoài D tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Đ, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 16/6/2023. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển về chung sống tại phường L, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, một thời gian sau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống và khác biệt trong thói quen sinh hoạt. Mặc dù anh H và chị D đã nhiều lần cố gắng hòa giải để giải quyết những bất đồng và hàn gắn tình cảm gia đình nhưng vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Đến tháng 6/2024, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, chị D chuyển về sống cùng gia đình ở thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị, vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay và không còn liên lạc với nhau. Nay, anh H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên có nguyện vọng được ly hôn với chị Mai Thị Hoài D.

- Về quan hệ con chung: Anh Trần Lưu H trình bày quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Trần Lưu H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về bị đơn Chị Mai Thị Hoài D: Toà án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị sau khi thụ lý vụ án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến tại Toà án để trình bày ý kiến, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng đều vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã trực tiếp đến tại địa phương nơi bị đơn đăng ký thường trú và phối hợp với UBND xã Đ, tỉnh Quảng Trị đến tại nhà chị Mai Thị Hoài D tại thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị để xác minh, nhưng chị D không có mặt, do đó Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Mai Văn T, sinh năm 1963 (là bố của chị Mai Thị Hoài D). Ông T cung cấp thông tin: Vợ chồng anh Trần Lưu H và chị Mai Thị Hoài D kết hôn vào năm 2023, sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc tại thành phố Đà Nẵng, quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn như thế nào ông T không biết, chị D cũng không nói với gia đình về việc vợ chồng ly hôn. Tháng 6 năm 2025 chị D có về tại địa phương ở thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị đến tháng 8 năm 2025 chị D vào lại thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian ở nhà chị D có nhận được văn bản tố tụng của Tòa án hay không thì gia đình không nắm được thông tin. Vợ chồng không có con chung, tài sản và nợ chung.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đối với chị Mai Thị Hoài D cho ông Mai Văn T, ông T cam kết sẽ thông báo cho chị D được biết về việc anh H làm đơn xin ly hôn chị D và thời gian tiến hành hòa giải của Tòa án. Tuy nhiên, tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải bị đơn chị Mai Thị Hoài D vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được nên đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị phát biểu tại phiên tòa việc tuân thep pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan hệ hôn nhân: xét vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2024 đến nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Lưu H, xử cho anh Trần Lưu H được ly hôn vắng mặt chị Mai Thị Hoài D. Về con chung: không xem xét. Tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm anh Trần Lưu H phải chịu 300.000đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Trần Lưu H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; là nơi bị đơn chị Mai Thị Hoài D có đăng ký nhân khẩu thường trú tại: thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị.

[1.1] Về sự có mặt của các đương sự: Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho các bên đương sự kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Nguyên đơn đã thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định, bị đơn vắng mặt không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải đối với chị Mai Thị Hoài D cho ông Mai Văn T (Là bố của chị D) cam kết sẽ thông báo cho chị D được biết về việc anh H làm đơn xin ly hôn chị D và thời gian tiến hành hòa giải của Tòa án. Nhưng bị đơn chị Mai Thị Hoài D đều vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2025 xét xử ngày 21 tháng 11 năm 2025. Tại phiên tòa anh Trần Lưu H có mặt, chị Mai Thị Hoài D vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án đã hoãn phiên tòa. Ngày 08/12/2025 Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai theo Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/TB-TA ngày 21/11/2025, anh H có mặt còn chị D tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Như vậy, bị đơn cố tình từ bỏ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 68, 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Mai Thị Hoài D.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Lưu H và chị Mai Thị Hoài D có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Đ, tỉnh Quảng Trị). Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cấp có thẩm quyền. Vì vậy, hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Anh chị đã có thời gian chung sống với nhau lẽ ra anh chị phải biết thương yêu, nhường nhịn, tôn trọng, tin tưởng nhau cùng nhau chia sẻ khó khăn xây dựng gia đình hạnh phúc. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa hai bên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung và vợ chồng đã sống ly thân, ở riêng từ khoảng tháng 6 năm 2024 cho đến nay, hai bên bỏ mặc không quan tâm lẫn nhau. Chị D không đến Tòa án để được hòa giải và không có biện pháp gì để níu kéo hạnh phúc. Điều này chứng tỏ rằng mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể sống chung hạnh phúc nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho vợ chồng ly hôn là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về quan hệ con chung: Anh Trần Lưu H và chị Mai Thị Hoài D không có con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về chia tài sản và nợ chung: Anh Trần Lưu H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Án phí ly hôn sơ thẩm anh Trần Lưu H phải chịu án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[4] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 và khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 51, 53, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho anh Trần Lưu H được ly hôn chị Mai Thị Hoài D.
  2. Về quan hệ con chung: Không xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Trần Lưu H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Số tiền anh Trần Lưu H phải nộp được khấu trừ từ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Quảng Trị theo biên lai số 0000368 ngày 21 tháng 7 năm 2025. Anh H đã nộp đủ.

Án xử công khai, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/12/2025); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú./.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 2;
  • - TAND Tỉnh Quảng Trị;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đồng Lê;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

ĐÃ KÝ

Nguyễn Phúc Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán

Chủ toạ phiên toà

Trần Xuân Văn Lê Thị Thúy Mai

Nguyễn Phúc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Trần Lưu H - Mai Thị Hoài D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger