Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 9 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 20/8/2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên

Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án.

- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 466/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2025/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ngọc T, sinh năm 1997

Địa chỉ: Ấp M, xã M, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Trương Thanh A, sinh năm 1994

Địa chỉ: Số F H, phường L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, có mặt bà Võ Thị Ngọc T, ông Trương Thanh A vắng mặt lần thứ 2, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc T và ông Trương Thanh A tìm hiểu nhau hơn 01 năm và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 14/4/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, ông A nhậu nhẹt, chửi mắng vợ vô cớ, hăm he đánh đập vợ. Do tình trạng mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông A.

- Về quan hệ con chung: Bà và ông A có 01 (một) con chung tên Trương Ngọc Như Ý sinh ngày 08/8/2021. Khi vợ chồng chưa ly thân thì con chung sống với vợ chồng, sau khi ly thân con chung được bà trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau đó, ông A dẫn con chung về Hậu Giang nuôi dưỡng hơn 01 tháng nay. Hậu Giang là nơi mẹ của ông An sinh S. Cháu Ý được ông A và bà nội nuôi dưỡng, bà thường xuyên gọi video call trò chuyện với cháu Ý mỗi buổi tối. Nay, bà đồng ý để cháu Ý tiếp tục sống với ông A.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo các biên bản làm việc trong quá trình gải quyết vụ án, bị đơn là ông Trương Thanh A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông A thống nhất với bà T về quan hệ hôn nhân và thời gian chung sống cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Qua yêu cầu ly hôn của bà T, ông A đồng ý.

Về quan hệ con chung: Ông và bà T có 01 (một) con chung tên Trương Ngọc Như Ý, sinh ngày 08/8/2021. Con chung hiện nay do ông trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông A yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là ông A vắng mặt lần thứ hai, không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự (viết tắt BLTTDS).

Về nội dung: Nhận thấy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông A đã trầm trọng và ông A cũng đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T. Về con chung, nhận thấy, cháu Ý đang được ông A nuôi dưỡng và bà T đồng ý giao cháu Ý cho ông A được quyền nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của ông A. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị không giải quyết do không có ai yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát than gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tranh chấp giữa bà T với ông A là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS; bị đơn có nơi cư trú tại số F H, phường L, tỉnh An Giang. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân khu vực 9 – An Giang thụ lý giải quyết.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, ông A tiếp tục vắng mặt lần thứ 2, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông A.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Ngọc T và ông Trương Thanh A tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã M cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 41 ngày 14/4/2021 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[4] Bà T cho rằng, quá trình chung sống vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, ông A thường xuyên chửi mắng bà vô cớ mỗi khi say xỉn. Phía ông A thừa nhận cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn như bà T trình bày và ông đồng ý ly hôn. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, mâu thuẫn trong hôn nhân của bà T và ông A đã trầm trọng, đôi bên không còn muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà T được ly hôn ông A.

[5] Về con chung: Bà T và ông A có 01 con chung chưa thành niên tên Trương Ngọc Như Ý sinh ngày 08/8/2021 đang được ông A trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa, bà T xác định đồng ý giao con chung cho ông A được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy, sự tự nguyện này của bà T không trái với quy định của pháp luật và để ổn định đời sống tâm lý của cháu Ý, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu được quyền nuôi con của ông A.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông A không yêu cầu nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

[7] Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

[8] Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà T đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002860 ngày 28/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – An Giang), bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Ngọc T, được ly hôn với ông Trương Thanh A.
  2. Về con chung: Ông, bà có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Trương Ngọc Như Ý sinh ngày 08/8/2021.

    Giao cháu Trương Ngọc Như Ý sinh ngày 08/8/2021 cho ông Trương Thanh A được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con do ông A không yêu cầu.

    (Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do bà T đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002860 ngày 28/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 – An Giang), bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND khu vực 9 – An Giang;
  • - Phòng THADS khu vực 9 – An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Mỹ Hòa Hưng
  • (GCNKH số 41 ngày 14/4/2021);
  • - Lưu VT và hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phạm Xuân Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ – ST ngày 20/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger