Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM THAO

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 24/6/2025

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đình Yên
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Hiếu
  • Ông Hà Thanh Phong
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký TAND huyện Lâm Thao
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Hoài - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2025/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2025/QĐXX - ST ngày 02/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2025/QĐHPT ngày 17/6/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Quỳnh N, sinh năm 1981;
  • Nơi ĐKHKTT tại: Khu A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
  • - Bị đơn: Anh Đỗ Quốc T, sinh năm 1980;
  • Nơi ĐKHKTT: Khu A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.

Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị Quỳnh N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Quốc T đăng ký kết hôn ngày 26/9/2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn vợ chồng được tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng, anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác và không có trách nhiệm với gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2019 đến nay. Hiện chị N thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh T.

- Về con chung: Chị N xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Đăng D, sinh ngày 21/8/2007 và cháu Đỗ Hoàng Hải Đ, sinh ngày 01/01/2013. Từ khi vợ chồng sống ly thân, hai cháu sống cùng chị. Khi ly hôn chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung và không đề nghị anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị N xác định không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Đỗ Quốc T biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, nhưng anh T vắng mặt (không có lý do). Do đó, anh T không có lời khai và Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Quỳnh N ly hôn anh Đỗ Quốc T.
  • - Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là Đỗ Đăng D, sinh ngày 21/8/2007 và Đỗ Hoàng Hải Đ, sinh ngày 01/01/2013 đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị N.
  • - Về tài sản chung: Chị N không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
  • - Về nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị N xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
  • - Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị Quỳnh N phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Nguyên đơn chị Phạm Thị Quỳnh N và bị đơn anh Đỗ Quốc T, đều đăng kí hộ khẩu thường trú tại: Khu A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

[1.2]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Phạm Thị Quỳnh N và bị đơn anh Đỗ Quốc T tại phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị Quỳnh N đã đến Tòa có lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với anh Đỗ Quốc T: Tòa án đã nhiều lần xuống nơi cư trú làm việc với gia đình anh T và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, để anh đến Tòa có lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo thủ tục chung của pháp luật. Nhưng anh T cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Bà Vương Thị Hồng M đẻ anh T đã nhận thay anh T các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao lại cho T, đồng thời bà có cung cấp thông tin về việc anh T có liên lạc về và nói quan điểm anh đồng ý ly hôn và để chị N nuôi 02 con chung. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án theo quy định là phù hợp quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, thông tin do bà Vương Thị H (mẹ đẻ anh T) và của chính quyền địa phương nơi anh, chị cư trú cung cấp có thể xác định: Chị Phạm Thị Quỳnh N và anh Đỗ Quốc T đăng ký kết hôn 26/9/2006 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận đến khoảng năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng; anh T chuyển về sống cùng bà H (mẹ đẻ), vợ chồng ly thân từ tháng 7/2019 đến nay.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N, anh T là trầm trọng, kéo dài, mục đích xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vợ chồng sống ly thân nhiều năm, anh T không có biện pháp cải thiện cuộc sống vợ chồng và anh T cũng không đến Tòa, để Tòa án tiến hòa giải vợ chồng đoàn tụ, chung sống. Do vậy, cần xử cho chị Phạm Thị Quỳnh N được ly hôn với anh Đỗ Quốc T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2]. Về con chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ tháng 7/2019, vợ chồng ly thân chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đỗ Đăng D và cháu Đỗ Hoàng Hải Đ. Khi ly hôn chị N xin được nuôi cả 02 con chung, hai cháu đều có nguyện vọng xin được ở cùng mẹ. Thực tế thấy rằng, chị N có đủ khả năng một mình nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung và hiện nay cháu D cũng chuẩn bị thành niên. Vì vậy, cần giao 02 con chung là cháu Đỗ Đăng D, sinh ngày 21/8/2007 và Đỗ Hoàng Hải Đ, sinh ngày 01/01/2013 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với cuộc sống thực tế của anh, chị và quy định của pháp luật. Chị N không đề nghị anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy anh T không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị N.

[2.3]. Về tài sản chung: Chị N không đề nghị giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.

[2.4]. Về nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị N xác định không có gì, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.

[3]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Quỳnh N phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị Quỳnh N ly hôn anh Đỗ Quốc T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung là cháu Đỗ Đăng D, sinh ngày 21/8/2007 và cháu Đỗ Hoàng Hải Đ, sinh ngày 01/01/2013, đến khi thành niên. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H1.
  3. Anh T có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật không ai được ngăn cấm.

  4. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
  5. Về nợ chung, tài sản cho vay, công sức đóng góp: Chị N xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không đặt ra giải quyết.
  6. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phạm Thị Quỳnh N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Số tiền chị N phải nộp được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số: BLTU/2024/0000874 ngày 18/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Thao;
  • - UBND TT Lâm Thao, huyện Lâm Thao;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trịnh Đình Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HNGĐ - ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 32/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger