TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-6-2025
V/v: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Út
- Ông Trần Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thanh V, sinh năm: 1976 (có mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Thành P, sinh năm: 1972 (có mặt)
Cùng nơi cư trú: Khu phố A, phường T (nay là khu phố A, phường P), thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thanh V trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thành P tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào đầu năm 2016, không tổ chức cưới hỏi, đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường P), thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận ngày 24/12/2018. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2019 bà phát hiện ông P vẫn còn liên lạc với vợ cũ của ông P. Bà có hỏi thì ông P chỉ nói hỏi thăm. Do mới kết hôn nên bà mới tha thứ cho ông P. Cuộc sống vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng vào năm 2022 khi bà ghi âm cuộc nói chuyện giữa ông P và vợ cũ. Kể từ thời điểm đó, bà và ông P đã không còn sống chung, bà về sinh sống tại khu phố A, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận đến nay, còn ông P sống tại nhà, đất bà và ông P nhận chuyển nhượng tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Trong thời gian vợ chồng không còn sống chung thì bà và ông P chưa bao giờ gặp nhau để nói chuyện, chỉ hàng tháng bà tới nơi ông P đang ở để thu tiền điện và tiền nước từ ông P. Ông P có đề nghị vợ chồng quay trở lại sống chung nhưng bà không đồng ý. Bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thành P.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung:
Ngày 07/11/2015, bà và ông Nguyễn Thành P có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị M thửa đất số 124, tờ bản đồ số 14, xã P, diện tích 1.805m² với số tiền 390.000.000 đồng. Thời điểm nhận chuyển nhượng trên đất chỉ có nhà kho do bà M xây dựng. Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, bà có tu sửa và xây dựng thêm nhà và các công trình phụ (bao gồm mái, tường thành, cổng) với tổng số tiền 210.000.000 đồng. Ông P có góp 49.000.000 đồng trong tổng số 390.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng đất, số tiền còn lại là của bà. Mặc dù tiền chuyển nhượng đất của bà chiếm tỷ lệ lớn, tuy nhiên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà và ông P cùng đứng tên bên nhận chuyển nhượng với lý do thửa đất này do ông P giới thiệu, gần nhà cha mẹ ông P nên sau khi đặt cọc mua đất, ông P có nói sau khi nhận chuyển nhượng thì sẽ tu sửa và xây dựng thêm ông P sẽ góp 49.000.000 đồng để cùng đứng tên trên hợp đồng chuyển nhượng thì bà đồng ý cho ông P cùng đứng tên. Đến năm 2019, bà và ông P được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nhận chuyển nhượng. Để xác định việc góp tiền nhận chuyển nhượng đất thì ngày 26/12/2020 ông P có làm bản cam kết thể hiện ông P góp 49.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng đất. Bản cam kết do ông P tự nguyện viết tại nhà bà ở khu phố A, phường T. Bà khẳng định nội dung bản cam kết đúng như thực tế sự việc giữa bà và ông P. Ngoài bản cam kết ngày 26/12/2020 thì bà và ông P không lập văn bản nào thể hiện tài sản chung, riêng đối với thửa đất này.
Năm 2018, bà có vay Ngân hàng N – chi nhánh T số tiền 250.000.000 đồng theo hình thức vay tín chấp (vay theo lương), mục đích vay tiêu dùng, mỗi tháng trả 4.000.000 đồng (bao gồm gốc và lãi). Thời điểm bà vay thì bà và ông P chưa kết hôn nên đây là nợ riêng của bà. Do bà vay để mua sắm vật dụng sinh hoạt gia đình nên hàng tháng ông P có hỗ trợ cho bà trả nợ ngân hàng số tiền 4.000.000 đồng/tháng, kể từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2020. Đến tháng 01/2021, ông P không hỗ trợ tiền trả tiền ngân hàng nữa. Việc ông P hỗ trợ bà trả nợ ngân hàng cũng được thể hiện tại Bản cam kết ngày 26/12/2020.
Từ lúc sống chung với nhau, ông P đưa tiền cho bà từ tháng 3/2018 với số tiền 13.000.000 đồng/tháng; năm 2019 ông P đưa cho bà số tiền 11.000.000 đồng/tháng; năm 2020 ông P đưa cho bà số tiền 10.000.000 đồng/tháng; năm 2021 ông P đưa cho bà số tiền 10.000.000 đồng/tháng. Từ năm 2022 do ly thân nên ông P không đưa tiền cho bà nữa. Số tiền ông P đưa cho bà hàng tháng để trả tiền nợ ngân hàng 4.000.000 đồng/tháng; trả tiền cấp dưỡng nuôi con của ông P chuyển vào số tài khoản 6150010815 của Ngân hàng TMCP Đ từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2020 với số tiền 2.000.000 đồng/tháng; số tiền còn lại phục vụ cuộc sống gia đình.
Bà yêu cầu Toà án chia tài sản là thửa đất số 124, tờ bản đồ số 14, xã P. Do ông P chỉ góp 1/10 giá chuyển nhượng đất ban đầu nên bà đồng ý hoàn lại cho ông P 1/10 giá trị hiện nay của thửa đất.
Đối với số tiền hỗ trợ trả nợ ngân hàng hàng tháng là 4.000.000 đồng từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2020 với tổng số tiền 136.000.000 đồng thì bà đồng ý trả lại cho ông P số tiền này. Tại phiên toà, bà không đồng ý hoàn trả lại cho ông P số tiền này nữa.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thành P trình bày:
- Về hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Huỳnh Thanh V về thời gian sống chung cũng như đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 vợ chồng ông phát sinh mâu thuẫn với lý do ông về đi viếng đám tang của mẹ vợ cũ của ông thì bà V phát hiện; ngoài ra ông không hiểu lý do gì bà V bắt ông phải sang tên đất cho bà V, nếu không sang tên cho bà V thì bà V sẽ đơn phương ly hôn. Kể từ năm 2022 đến nay vợ chồng đã không còn sống chung, chỉ hàng tháng bà V tới nơi ông đang ở (thôn P, xã P, huyện N) để nhận lương, thu tiền điện và tiền nước. Nay vợ chồng đã không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà V.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung:
Ngày 07/11/2015, ông và bà Huỳnh Thanh V có nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị M thửa đất số 124, tờ bản đồ số 14, xã P, diện tích 1.805m² với số tiền 390.000.000 đồng. Số tiền 390.000.000 đồng bao gồm 69.000.000 đồng do ông bỏ ra, bà V góp 71.000.000 đồng, còn lại 250.000.000 đồng bà V nói vay mượn, sau khi sang tên quyền sử dụng đất thì sẽ vay thế chấp quyền sử dụng đất để trả lại số tiền 250.000.000 đồng này. Thời điểm nhận chuyển nhượng trên đất chỉ có nhà kho do bà M xây dựng. Ngay sau khi nhận chuyển nhượng, ông và bà V có tu sửa và xây dựng thêm phòng ở và các công trình phụ (bao gồm nhà vệ sinh, mái, tường thành, cổng) với tổng số tiền 100.000.000 đồng, số tiền 100.000.000 đồng này do bà V bỏ ra, sau đó hàng tháng tôi đưa lại tiền lương của ông cho bà V. Đến năm 2019, ông và bà V được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nhận chuyển nhượng. Bà V yêu cầu ông sang tên toàn bộ quyền sử dụng đất cho bà V, nếu không thì bà V sẽ đơn phương ly hôn. Vì lý do ông sợ bà V sẽ làm đơn ly hôn (vì trước đây ông đã từng ly hôn với vợ cũ) nên ngày 26/12/2020, bà V ép buộc ông viết bản cam kết thể hiện ông góp 49.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng đất. Bản cam kết do ông viết tại nhà bà V ở khu phố A, phường T. Ông khẳng định nội dung bản cam kết không đúng như thực tế sự việc giữa ông và bà V, cụ thể số tiền ông bỏ ra để chuyển nhượng đất là 69.000.000 đồng, bỏ V chỉ bỏ ra 71.000.000 đồng, số tiền còn lại do vay mượn, sau này bà V vay ngân hàng để trả lại số tiền vay mượn, hàng tháng ông có thanh toán số tiền vay mượn ngân hàng, cụ thể từ tháng 01/2016 đến tháng 5/2017, mỗi tháng ông đưa cho bà V 8.000.000 đồng; từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2020 mỗi tháng ông đưa cho bà V 15.000.000 đồng; từ tháng 01/2021 đến tháng 8/2022 mỗi tháng ông đưa cho bà V 10.000.000 đồng. Số tiền ông đưa hàng tháng cho bà V trên bao gồm tiền nợ ngân hàng và tiền sinh hoạt gia đình. Ngoài số tiền hàng tháng ông đưa bà V thì ông còn đưa cho bà V 2.000.000 đồng/tháng để bà V trả tiền cấp dưỡng nuôi con thay ông. Ông không biết bà V vay ngân hàng nào và số tiền phải trả hàng tháng cho ngân hàng bao nhiêu, tuy nhiên do bà V yêu cầu nên ông mới viết trong bản cam kết là số tiền hỗ trợ hàng tháng trả nợ ngân hàng là 4.000.000 đồng. Ngoài bản cam kết ngày 26/12/2020 thì ông và bà V không lập văn bản nào thể hiện tài sản chung, riêng đối với thửa đất này.
Như vậy, mặc dù số tiền ông góp mua đất chỉ 69.000.000 đồng nhưng số tiền ông đưa bà V hàng tháng lớn hơn cả số tiền mua đất. Xét về tổng số tiền đã đóng góp vào việc mua đất, ban đầu ông đã góp 69.000.000 đồng, sau đó bà V đã sử dụng tiền lương của ông để trả khoản vay ngân hàng 250.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Tòa án chia đôi quyền sử dụng đất, ông yêu cầu được nhận hiện vật vì hiện ông không có nhà ở nào khác và ông đã sinh sống trên nhà, đất từ thời điểm nhận chuyển nhượng đến nay.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- + Về việc xác định quan hệ tranh chấp của Tòa cấp sơ thẩm: Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” là có cơ sở.
- + Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng nội dung quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể như: Thẩm phán đã tiến hành ra quyết định thụ lý vụ án đúng thẩm quyền và tống đạt cho các đương sự và Viện kiểm sát theo quy định; xác định quan hệ pháp luật tranh chấp có căn cứ, lập hồ sơ vụ án đúng quy định; xác định đúng tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, tiến hành hòa giải để các đương sự có thể thỏa thuận với nhau; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo đến các đương sự theo quy định.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 33, 43, 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự.
- Về tài sản chung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chia cho bà V được hưởng 60% trong khối tài sản chung và ông P nhận 40% trong khối tài sản chung.
- Về con chung, nợ chung: không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thanh V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chia tài sản khi ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Thành P. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn” theo 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường T (nay là phường P), thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Huỳnh Thanh V và ông Nguyễn Thành P chung sống với nhau vào đầu năm 2016, không tổ chức cưới hỏi, đến năm 2018 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường P), thành phố P - T ngày 24/12/2018. Căn cứ khoản 13 Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân của bà V và ông P là hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn.
Quá trình chung sống, bà V và ông P phát sinh mâu thuẫn với lý do chỉ vì ông P vẫn còn liên hệ với vợ cũ, từ đó vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau và đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Đây là sự vi phạm nghĩa vụ vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; ông Nguyễn Thành P cũng đồng ý ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 55 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thanh V và ông Nguyễn Thành P; bà V được ly hôn ông P.
[2.2] Về con chung: Bà Huỳnh Thanh V và ông Nguyễn Thành P xác định không có con chung.
[2.3] Về tài sản chung: Bà Huỳnh Thanh V yêu cầu chia tài sản là thửa đất số 124, tờ bản đồ số 14, xã P (viết tắt là thửa đất số 124) theo phần vốn góp, cụ thể chia cho ông P 10% trong khối tài sản chung, chia cho bà 90% trong khối tài sản chung, xét thấy:
[2.3.1]
Bà Huỳnh Thanh V và ông Nguyễn Thành P đều thừa nhận thửa đất số 124, tờ bản đồ số 14, xã P do ông, bà cùng nhận chuyển nhượng chung của bà Nguyễn Thị M ngày 07/11/2015 với số tiền 390.000.000 đồng nên đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà V cho rằng số tiền nhận chuyển nhượng đất ông P góp 49.000.000 đồng trong tổng số 390.000.000 đồng, số tiền nhận chuyển nhượng còn lại là của bà; trong khi đó ông P cho rằng số tiền nhận chuyển nhượng đất 390.000.000 đồng bao gồm 69.000.000 đồng do ông bỏ ra, bà V góp 71.000.000 đồng, còn lại 250.000.000 đồng do bà V vay mượn. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Bản cam kết ngày 26/12/2020 (BL 36-37), các đương sự đều thừa nhận số tiền thực tế nhận chuyển nhượng thửa đất số 124 là 390.000.000 đồng, trong đó bà V là 341.000.000 đồng, ông P là 49.000.000 đồng. Giấy cam kết thể hiện nội dung cụ thể như sau: “Năm 2015, tôi có góp với vợ tôi hiện nay 390.000.000 ba trăm chín mươi triệu, bản thân tôi bỏ ra 49.000.000 bốn mươi chín triệu, bản thân vợ tôi hiện nay bỏ ra 341.000.000 (ba trăm bốn mươi mốt triệu) và xây dựng sửa chữa xây đất lại 210.000.000 (Hai trăm mười triệu) cũng do vợ tôi hiện nay bỏ ra, tôi không góp tiền, đến tháng 3/2018, tôi góp mỗi tháng 4.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng cho vợ tôi đến nay (như vậy ban đầu vợ tôi bỏ ra 551.000.000 đồng, tôi bỏ ra 49.000.000 đồng) công sức cả tôi và vợ tôi hiện nay bỏ ra để cải tạo hoàn chỉnh như ngày hôm nay”. Ông P thừa nhận Bản cam kết do ông viết, tuy nhiên ông khai việc ông viết Bản cam kết do bà V ép buộc và số tiền đóng góp là 69.000.000 đồng nhưng không có tài liệu chứng minh. Do đó, có căn cứ để xác định mặc dù ông P và bà V cùng đứng tên chung nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 124 với số tiền 390.00.000 đồng nhưng ông P chỉ góp 49.000.000 đồng, còn lại số tiền 341.000.000 đồng do bà V đóng góp. Sau khi nhận chuyển nhượng đất thì bà V có xây dựng, sửa chữa với số tiền 210.000.000 đồng. Như vây, tổng số tiền bà V đóng góp vào việc tạo lập tài sản là 551.000.000 đồng.
[2.3.2]
Mặc dù thửa đất số 124 bà V và ông P nhận chuyển nhượng trước thời kỳ hôn nhân (năm 2015), nhưng đầu năm 2016 bà V và ông P đã bắt đầu chung sống với nhau trên thửa đất này, đến ngày 24/12/2018 mới đăng ký kết hôn. Ngày 10/10/2019, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 465346 đối với thửa đất số 124 đứng tên ông P và bà V. Từ thời điểm năm 2015 nhận chuyển nhượng thửa đất số 124 đến thời điểm đăng ký kết hôn năm 2018 và đến khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019, các đương sự đều không lập văn bản hay thoả thuận xác nhận tài sản riêng của vợ chồng; do đó có căn cứ xác định mặc dù tài sản được nhận chuyển nhượng trước hôn nhân nhưng sau hôn nhân bà V và ông P cùng đăng ký dưới tên chung của vợ chồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng” và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”. Như vậy, việc bà V và ông P đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên cả hai vợ chồng mà không có thoả thuận nào khác đã thể hiện ý chí của bà V và ông P xác định đây là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo quy định tại tại khoản 2 Điều 33 và Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, Bản cam kết ngày 26/12/2020 chỉ thể hiện phần vốn góp ban đầu, không thể hiện quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 124 là tài sản riêng của ai, Hội đồng xét xử sẽ đánh giá công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì tài sản chung.
[2.3.3]
Theo khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập”.
Mặc dù đăng ký kết hôn năm 2018 nhưng bà V và ông P đã sống chung với nhau như vợ chồng kể từ thời điểm năm 2016. Ông P cho rằng quá trình chung sống ông đưa tiền cho bà V hàng tháng bắt đầu từ tháng 01/2016, cụ thể từ tháng 01/2016 đến tháng 5/2017 số tiền 8.000.000 đồng/tháng, từ tháng 6/2017 đến tháng 12/2020 số tiền 15.000.000 đồng/tháng; từ tháng 01/2021 đến tháng 8/2022 số tiền 10.000.000 đồng/tháng nhưng không có tài liệu chứng minh. Bà V thừa nhận hàng tháng ông P có đóng góp tiền lương cho bà từ tháng 3/2018 đến năm 2021, cụ thể tại biên bản hoà giải ngày 23/5/2025 bà V trình bày: “Từ lúc sống chung với nhau, ông P đưa tiền cho bà từ tháng 3/2018 với số tiền 13.000.000 đồng/tháng; năm 2019 ông P đưa cho bà số tiền 11.000.000 đồng/tháng; năm 2020 ông P đưa cho bà số tiền 10.000.000 đồng/tháng; năm 2021 ông P có đưa cho bà số tiền 10.000.000 đồng/tháng. Từ năm 2022 do ly thân nên ông P không đưa cho bà tiền nữa. Số tiền ông P đưa cho bà hàng tháng để trả tiền nợ ngân hàng 4.000.000 đồng/tháng; trả tiền cấp dưỡng nuôi con của ông P chuyển vào số tài khoản 6150010815 của Ngân hàng TMCP Đ từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2020 với số tiền 2.000.000 đồng/tháng; số tiền còn lại phục vụ cuộc sống gia đình”. Như vậy có căn cứ xác định hàng tháng ông P có đưa tiền cho bà V số tiền như bà V trình bày.
Tại phiên toà, bà V xác định số tiền ông P đưa hàng tháng cho bà là tiền riêng của ông P, kể cả số tiền ông P đưa cho bà trong thời kỳ hôn nhân. Bà sử dụng số tiền này để trả nợ ngân hàng 4.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2020 (là nợ riêng của bà V) và trả tiền cấp dưỡng nuôi con của ông P từ tháng 3/2018 đến tháng 12/2020 với số tiền 2.000.000 đồng/tháng, số tiền còn lại bà giữ. Như vậy, tổng số tiền ông P đưa cho bà V trong quá trình sống chung là 502.000.000 đồng trừ số tiền cấp dưỡng nuôi con của ông P 68.000.000 đồng (34 tháng x 2.000.000 đồng/tháng), còn lại 434.000.000 đồng (trong đó có số tiền trả nợ riêng của bà V). Ông P không yêu cầu bà V hoàn trả lại số tiền này, ông xác định số tiền ông đưa cho bà V để đóng góp vào việc tạo lập, duy trì quyền sử dụng đất ông và bà V đã nhận chuyển nhượng. Do đó, tổng số tiền đóng góp của ông P trong việc tạo lập, duy trì tài sản chung là 483.000.000 đồng (434.000.000 đồng + 49.000.000 đồng), nhiều hơn công sức đóng góp của bà V. Tuy nhiên, xét đóng góp ban đầu trong việc tạo lập tài sản chung, Hội đồng xét xử chia cho ông P 40% khối tài sản chung, chia cho V 60% khối tài sản chung.
[2.3.4]
Bà V và ông P đều có yêu cầu được nhận hiện vật là quyền sử dụng đất. Xét hiện nay ông P từ khi nhận chuyển nhượng đến nay vẫn đang sinh sống trên thửa đất số 124; ông P không có chỗ ở nào khác. Đối với bà V, sau khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bà V về sinh sống tại phường T (nay là phường P). Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các bên, căn cứ khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định chia tài sản chung bằng hiện vật cho các bên, bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2024 và ngày 15/4/2025 xác định ngoài thửa đất số 124 thì còn có các tài sản là vật kiến trúc, công trình trên đất; tuy nhiên tại phiên toà các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết các tài sản là vật kiến trúc, công trình trên đất, chỉ tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 124 và đề nghị ghi nhận các tài sản nằm trên các phần đất được chia cho mỗi bên. Tại Bản đo đạc chỉnh lý riêng từng thửa đất bản đồ địa chính ngày 07/10/2024 của VPĐKĐĐ Ninh Thuận – chi nhánh N1 thể hiện thửa đất số 124 có diện tích 1.779,7m², ranh giới đất không thay đổi nhưng diện tích giảm 25m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do trước đây số hoá bản đồ và các đương sự thống nhất kết quả đo đạc. Biên bản định giá ngày 27/8/2024 đã định giá quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 124 thành tiền là 79.200.000 đồng. Tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 01/11/2024 (BL 243) và tại phiên toà, các đương sự thống nhất giá trị toàn bộ quyền sử dụng đất thửa đất số 124 là 500.000.000 đồng, tương đương 280.946 đồng/m². Xét thấy, việc thoả thuận giá của đương sự trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, bà V được chia giá trị tài sản chung là 300.000.000 đồng; ông P được chia giá trị tài sản chung là 200.000.000 đồng.
[2.3.5] Phần tài sản chung được chia như sau:
Tại công văn số 373/VPĐKĐĐNT-CNNP ngày 12/3/2025 của Văn phòng Đ1 - chi nhánh N1 thì hạn mức tách thửa đối với thửa đất số 124 là 750m². Do đó, để đảm bảo các điều kiện, nguyên tắc và hạn mức tách thửa, Hội đồng xét xử phân chia tài sản chung bằng hiện vật như sau:
- - Chia cho bà Huỳnh Thanh V được quyền sử dụng phần diện tích đất 1.028,2m² được xác định bởi các điểm (2,3,4,5,6,7,8), trị giá 288.868.677 đồng và bà V được sở hữu các tài sản trên phần diện tích đất này gồm: Nhà kho diện tích 14,5m² kết cầu móng xây đá chẻ, nền ceramic, mái tole, tường xây gạch tô quét sơn.
- - Chia cho ông Nguyễn Thành P được quyền sử dụng phần diện tích đất 751,5m² được xác định bởi các điểm (1,2,8,9,10,11), trị giá 211.130.919 đồng và ông P được sở hữu các tài sản trên phần diện tích đất này gồm: Căn nhà có diện tích 26,2m², kết cấu móng đá chẻ, nền ceramic, mái tole, tường xây gạch tô quét sơn, có nhà vệ sinh và bếp gắn liền; mái che diện tích 58,6m² và diện tích 19,2m² gắn liền với căn nhà, kết cấu mái tole, cột kèo sắt, sân xi măng; cổng sắt diện tích 5m², trụ xây gạch.
Ông Nguyễn Thành P có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thanh V số tiền 11.131.000 đồng chênh lệch chia tài sản chung.
(Kèm theo Bản Đo chỉnh lý riêng từng thửa đất bản đồ địa chính ngày 19/5/2025 của VPĐKĐĐ Ninh Thuận – chi nhánh N1).
[2.4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, trích đo: Tổng chi phí 9.033.500đ. Bà V đã nộp tạm ứng 5.875.000 đồng; ông P nộp tạm ứng 3.158.5000 đồng. Các đương sự tự nguyện chịu các phần đã nộp tạm ứng và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí:
- - Bà Huỳnh Thanh V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
- - Bà Huỳnh Thanh V, ông Nguyễn Thành P mỗi người phải chịu án phí trên giá trị tài sản chung được chia như sau:
- + Bà Huỳnh Thanh V được chia tài sản trị giá 300.000.000 đồng nên phải chịu án phí về chia tài sản là 15.000.000 đồng.
- + Ông Nguyễn Thành P được chia tài sản trị giá 200.000.000 đồng nên phải chịu án phí về chia tài sản là 10.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 13 Điều 3; Điều 9; Điều 33; Điều 55; Điều 56; Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thanh V đối với bị đơn ông Nguyễn Thành P.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Huỳnh Thanh V và ông Nguyễn Thành P. Bà Huỳnh Thanh V được ly hôn ông Nguyễn Thành P.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản chung:
- - Chia cho bà Huỳnh Thanh V được quyền sử dụng phần diện tích đất 1.028,2m² được xác định bởi các điểm (2,3,4,5,6,7,8) theo Bản đo đạc chỉnh lý riêng từng thửa đất bản đồ địa chính ngày 19/5/2025 của Văn phòng Đ1 – chi nhánh N1 và bà V được sở hữu tài sản trên phần diện tích đất này gồm: Nhà kho diện tích 14,5m² kết cầu móng xây đá chẻ, nền ceramic, mái tole, tường xây gạch tô quét sơn.
- - Chia cho ông Nguyễn Thành P được quyền sử dụng phần diện tích đất 751,5m² được xác định bởi các điểm (1,2,8,9,10,11) theo Bản đo đạc chỉnh lý riêng từng thửa đất bản đồ địa chính ngày 19/5/2025 của Văn phòng Đ1 – chi nhánh N1 và ông P được sở hữu các tài sản trên phần diện tích đất này gồm: Căn nhà có diện tích 26,2m², kết cấu móng đá chẻ, nền ceramic, mái tole, tường xây gạch tô quét sơn, có nhà vệ sinh và bếp gắn liền; mái che diện tích 58,6m² và diện tích 19,2m² gắn liền với căn nhà, kết cấu mái tole, cột kèo sắt, sân xi măng; cổng sắt diện tích 5m², trụ xây gạch.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí:
- 5.1. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thanh V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002553 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang -T, tỉnh Ninh Thuận. Bà V đã nộp đủ.
- 5.2. Án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản chung:
- - Bà Huỳnh Thanh V phải chịu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) án phí chia tài sản chung nhưng được khấu trừ vào số tiền 32.400.000 đồng (Ba mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002554 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. H lại cho bà V số tiền 17.400.000 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm nghìn đồng) chênh lệch.
- - Ông Nguyễn Thành P phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Thành P có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thanh V số tiền 11.131.000 đồng (Mười một triệu một trăm ba mươi mốt nghìn đồng) chênh lệch khi chia tài sản chung.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bà Huỳnh Thanh V có nghĩa vụ giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 465346 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp ngày 10/10/2019 đứng tên ông Nguyễn Thành P và bà Huỳnh Thanh V. Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký, chỉnh lý biến động, kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được chia theo quyết định của bản án và theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.
(Có Bản đo đạc chỉnh lý riêng từng thửa đất bản đồ địa chính ngày 19/5/2025 của Văn phòng Đ1 – chi nhánh N1 kèm theo).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn và bị đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2025)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
