|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11/6/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Diên Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và bà Lê Thị Thanh Thủy
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở toà án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 105/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-DS ngày 28/5/2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1988. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
- Nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Nơi đăng ký tạm trú và chỗ ở hiện nay: A T, phường F, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1984. Vắng mặt
- Nơi cư trú: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2025, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/7/2010. Kết hôn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh H thường xuyên uống rượu, đánh đập chị, không lắng nghe, tôn trọng ý kiến của chị. Chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ năm 2012 đến năm 2018 thì sau đó anh H xin lỗi chị và gia đình hứa sẽ thay đổi nên chị đã tha thứ và vợ chồng về đoàn tụ chung sống với nhau để nuôi dạy các con, nhưng anh H không thay đổi mà tiếp tục đánh chị, không thể chịu đựng được nữa đến tháng 4/2019 chị bỏ về bố mẹ đẻ sống một thời gian và chuyển vào tỉnh Lâm Đồng sinh sống và làm ăn. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh H, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung : Vợ chồng có 03 con chung Nguyễn Thúy V sinh ngày 07/7/2011; Nguyễn Thúy K, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14/11/2020. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con là V và N, giao con là K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Nguyễn Văn H hợp lệ nhưng anh H vắng mặt không có ý kiến gửi Tòa án.
* Cháu Nguyễn Thúy K trình bày: Bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố.
* Cháu Nguyễn Thúy V trình bày: Bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Theo Biên bản xác minh ngày 14/5/2025 ông Nguyễn Công T1 trình bày: Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Văn H. Các tài liệu khởi kiện và Thông báo của Tòa án giao về việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Nguyễn Văn H thì ông đã thông báo cho anh H, anh H không có ý kiến gì. Sau khi kết hôn anh H và chị T ở nhà riêng tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống anh H và chị T có xảy ra mâu thuẫn, nhiều lần xảy cãi vã. Chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở huyện N, tỉnh Nghệ An từ đầu năm 2019, nên vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị T và anh H có 03 con chung Nguyễn Thúy V, sinh ngày 07/7/2011; Nguyễn Thúy K, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14/11/2020. Thời gian vợ chồng sống ly thân cháu V và T1 ở với chị T, cháu K ở với anh H. Nay gia đình không biết nguyện vọng của anh H như thế nào về quan hệ hôn nhân, về con và tài sản nên đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kết quả xác minh tại UBND xã Q: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị T đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 05/7/2010. Kết hôn tự nguyện, hợp pháp. Sau khi kết hôn anh H và chị T chung sống và cư trú tại xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh H và chị T đã có nhà ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng anh H, chị T có xảy ra mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Nhưng hiện nay vợ chồng đã sống ly thân. Anh H thường đi làm xa, chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở huyện N ở. Anh H và chị T có 03 con chung là Nguyễn Thiện N sinh ngày 14/11/2020, Nguyễn Thúy V, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Thúy K sinh ngày 07/07/2011. Hiện nay cháu K ở với anh H, còn cháu N và cháu V ở với chị T. Nay chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh H thì địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
2
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý, thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Về nội dung: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Về tình cảm: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thúy V, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14/11/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Giao con chung là Nguyễn Thúy K, sinh ngày 07/7/2011 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H và chị T vì không ai yêu cầu.
Anh H, chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
[1.1] Chị Trần Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Văn H, có nguyện vọng nuôi con chung đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại xóm X, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn xin xét xử mặt tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh H và chị T là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, quá trình chung sống anh H và chị T có xảy ra mâu thuẫn và nhiều lần cãi vã, vợ chồng đã
3
sống ly thân từ năm 2019 đến nay không có biện pháp hòa giải đoàn tụ. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T cương quyết yêu cầu ly hôn, nên vợ chồng không thể trở về chung sống với nhau. Do đó, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị T ly hôn anh Nguyễn Văn H.
[2.2] Về con chung: Xét thấy, nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị T là chính đáng, thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ và tình thương yêu đối với con. Anh H không có ý kiến về nguyện vọng nuôi con gửi Tòa án. Tuy nhiên, thời gian vợ chồng chị T và anh H sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay cháu V và T1 ở với chị T, cháu K ở với anh H, các cháu vẫn được đảm bảo cuộc sống bình thường. Vì vậy, để bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt và học tập cho các cháu thì nên tiếp tục giao cháu V và T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An là phù hợp.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H và chị T vì không ai yêu cầu.
[2.3] Về tài sản và nợ chung: Không ai yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thúy V, sinh ngày 07/7/2011 và Nguyễn Thiện N sinh ngày 14/11/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành hoặc đến khi có quyết định khác thay thế.
Giao con chung là Nguyễn Thúy K, sinh ngày 07/7/2011 cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 6 năm 2025 cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành hoặc đến khi có quyết định khác thay thế.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H và chị T vì không ai yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng mà chị T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 00059822 ngày 24/3/2025.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
5 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Diên Tuấn |
Bản án số 32/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 32/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Th yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn H
