|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/DS - PT
Ngày 08 tháng 4 năm 2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Toàn Việt
Bà Điêu Thị Bích Lượt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02 và 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 153/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2024/DS - ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2025/QĐXX - PT ngày 13 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa và Quyết định ngừng phiên tòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đào Văn H, sinh năm 1966, địa chỉ: Khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Đào Văn H: Ông Đào Xuân Q, sinh năm 1954, địa chỉ: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Ông Ngô Tiến Đ, sinh năm 1943, địa chỉ: Khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Tiến Đ: Bà Bùi Thị Thanh N, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1966 (vợ ông H), địa chỉ: Khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị T là ông Đào Văn H.
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1950 (vợ ông Đ), địa chỉ: Khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Đ1: Ông Ngô Tiến Đ, sinh năm 1943, địa chỉ: Khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Người làm chứng: Bà Đặng Thị V, địa chỉ: Khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
(Ông H, ông Q, ông Đ có mặt ngày 02/4/2025; ông H, ông Q vắng mặt ngày 08/4/2025; bà N có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trinh tố tụng nguyên đơn là Đào Văn H trình bày: Ông có một số thửa đất đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 375375 ngày 25/9/2000 với tổng diện tích là 2.129m², trong đó có thửa số 110, tờ bản đồ số 17, diện tích là 283m² đất lúa tại khu 7 cũ, xã H, huyện L, tỉnh Phú Thọ nay là khu L xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
Năm 2003, do công việc của ông phải đi làm xa, ông có cho ông Ngô Tiến Đ mượn thửa số 110 tờ bản đồ số 17 nêu trên để ông Đ cấy lúa, ông lấy 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng) tiền cho mượn ruộng nhưng không có giấy tờ gì chỉ nói bằng miệng. Ông và ông Đ đã sang nhà bà Đặng Thị V (Đội trưởng) để trình bày việc cho ông Đ mượn ruộng. Hai bên có viết giấy xác nhận về việc ông cho ông Đ mượn ruộng để cấy lúa đến năm 2013, ông Đ là người cầm tờ Giấy xác nhận nên ông không cung cấp cho Toà án được. Đến năm 2019, ông về thì thấy ông Đ đã tự ý đào ao, thả cá mà chưa được sự đồng ý của ông. Ông đã đến nhà ông Đ yêu cầu ông Đức L và trả lại ruộng cho ông nhưng ông Đ không đồng ý. Ông không đổi vị trí canh tác thửa ruộng nào cho ông Đ. Ông khẳng định không bán cho ông Đ bất cứ thửa ruộng nào.
Ông thừa nhận có ký vào Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 và nhận của ông Đ 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng đây là khoản tiền ông vay để mua lưới vét cá. Ông đã trả cho ông Đ số tiền vay nêu trên nhưng ông không đòi lại Giấy biên nhận để huỷ bỏ đi. Đây là khoản vay không có thời hạn, không có lãi. Nay ông chấp nhận trả cho ông Đ số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) vì ông có viết số tiền bằng chữ nêu trên trong Giấy biên nhận ngày 22/4/2006. Ông cũng không yêu cầu ông Đ phải trả cho ông tiền mượn ruộng từ năm 2003 đến nay nữa. Ông không thoả thuận chuyển nhượng cho ông Đ thửa 109 tờ bản đồ số 17 diện tích 280m² vì đây là thửa ruộng của người khác chứ không phải của ông. Diện tích thửa 109, tờ bản đồ số 17 theo Sổ địa chính là 283m² chứ không phải 280m² như ông Đ tự ý viết. Ông Đ tự ý viết thêm nội dung chuyển nhượng đất và tự ý điền diện tích, số tờ, số thửa vào Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 sau khi ông đã ký tên nên ông không đồng ý nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông Đ xuất trình Giấy biên nhận này để chiếm hữu, sử dụng thửa ruộng số 110, tờ bản đồ số 17 của ông thì ông không đồng ý. Ông không chuyển nhượng thửa 110, tờ bản đồ số 17 cho ông Đ. Tiêu đề của giấy là “Giấy biên nhận” chứ không phải là “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Ông thừa nhận có viết chữ “là Đào Văn H”, “Lê Thị T”, “một triệu hai trăm nghìn đồng” trong Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 còn các chữ khác ông không viết, mục đích chỉ để vay tiền. Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình ông, khoảng thời gian đó vẫn để ở trong Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thị xã P - Phòng G để làm thủ tục thế chấp. Đến ngày 08/01/2007, ông Đ tiếp tục nhận chuyển nhượng thửa số 109, tờ bản đồ số 17 của ông Nguyễn Xuân T1. Vì vậy thửa số 110, tờ bản đồ số 17 là của ông cho ông Đ mượn để cấy lúa chứ ông không bán. Ông yêu cầu ông Đ và vợ là bà Nguyễn Thị Đ1 phải tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, cá, lâm
lộc trên đất, hoàn trả lại hiện trạng ban đầu trả lại cho vợ chồng ông quyền sử dụng thửa ruộng số 110, tờ bản đồ số 17.
Đối với nội dung trong đơn khởi kiện ông yêu cầu ông Đ phải trả lại con đường đi dân sinh do ông Đ đổ đất lấn chiếm, để mọi người đi lại làm ruộng. Nay theo ông được biết con đường đi dân sinh không có trong chỉ giới bản đồ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông, mà con đường là của nhà nước do Ủy ban nhân dân xã H có trách nhiệm quản lý nên ông xin thay đổi yêu cầu, ông không yêu cầu Toà án giải quyết nội dung trên.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Trình bày thống nhất với ý kiến của nguyên đơn đã nêu trên, đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu của ông Đào Văn H đúng theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ông H.
Ông Ngô Tiến Đ trình bày: Năm 2000, ông có đổi cho ông Đào Văn H cùng khu thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17, diện tích 283m² với một phần thửa đất số 111, tờ bản đồ số 17, diện tích 672m². Sau đó ông sử dụng thửa ruộng của ông H và cải tạo ruộng làm ao nuôi cá cùng với thửa số 109, tờ bản đồ số 17 của ông Nguyễn Xuân T1 và thửa số 111, tờ bản đồ số 17 của ông Nguyễn Văn H1. Khi đổi hai bên chỉ trao đổi bằng miệng, không viết giấy tờ gì, chỉ báo cho trưởng khu là bà Đặng Thị V biết về việc sử dụng ruộng để ghi vào sổ theo dõi và thu phí. Đến ngày 22/4/2006, ông H không đồng ý đổi mà bán lại thửa 110, tờ bản đồ số 17 cho ông với giá 1.200.000 đồng. Ông H có viết vào phần để trống trong Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 cho ông nhưng ông H có ghi nhầm là thửa 109, ông không biết rõ thửa số bao nhiêu nên ông cũng đồng ý. Thực tế ông đã sử dụng thửa 110 của ông H. Ông đã đào ao thả cá từ năm 2003 cho đến nay nhưng không làm thủ tục để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì lúc đó ông H còn đang làm thủ tục thế chấp tại Ngân hàng nên chưa sang tên được. Ông cũng báo cáo cán bộ đội trưởng lúc đó về việc chuyển diện tích đất của ông H sang cho ông. Nay quan điểm của ông không nhất trí trả lại thửa ruộng trên cho ông H. Nếu ông H muốn lấy lại diện tích đất trên thì phải bồi thường cho ông số tiền ông đã đầu tư vào việc đào ao là 130.000.000 đồng. Tại phiên toà ông nhất trí trả lại ruộng cho ông H nếu ông H trả cho ông giá trị quyền sử dụng đất theo giá của Hội đồng định giá. Ông H không trả tiền cho ông thì ông không nhất trí trả lại ruộng cho ông H, vì ông đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa ruộng của ông H theo Giấy biên nhận ngày 22/4/2006.
Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 là do ông Đ tự viết, trong đó có phần để trống cho ông H ghi các chữ “là Đào Văn H”, “Lê Thị T”, “một triệu hai trăm nghìn đồng” và ký tên “trồng Đào Văn H” (ông H đã thừa nhận). Còn số “109”, “17” thì nay ông Đ không biết, không nhớ ai viết. Ông Đ đề nghị giám định chữ số “109” và số “17”, nếu chữ của ông H thì ông H phải chịu trách nhiệm, nếu không phải của ông H thì ông Đ chịu trách nhiệm. Ông Đ cũng đề nghị giám định so với chữ của ông Đ, nếu ông Đ tự điền số “109” và số “17” thì ông Đ chịu trách nhiệm. Ông Đ đề nghị Toà án công nhận hiệu lực của Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 để xác lập quyền sử dụng đất của ông đối với thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17 vì ông đã sử dụng thửa đất này hơn 20 năm.
Tại bản kết luật giám định số 1217/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh P đã kết luận: Các số “109” và “17” trên “Giấy biên nhận (mẫu cần giám định ký hiệu A) so với chữ số trên “Bản tự khai; Biên bản lấy mẫu giám định”
(mẫu so sánh ký hiệu M3, M4) là do cùng một người viết ra. (Mẫu M3, M4 là mẫu chữ viết của ông Ngô Tiến Đ). Ông Ngô Tiến Đ không đồng ý với kết luận giám định nhưng không có ý kiến đề nghị gì khác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Tiến Đ là bà Bà Bùi Thị Thanh N, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P trình bày ý kiến: Căn cứ yêu cầu đề nghị, chứng cứ do ông ông Ngô Tiến Đ xuất trình, đề nghị Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ giải quyết theo quy định của pháp luật đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ngô Tiến Đ. Không có ý kiến gì về kết luận giám định nêu trên và không yêu cầu giám định lại.
Người làm chứng là bà Đặng Thị V trình bày: Bà làm đội trưởng dịch vụ khu 7 và khu 15 nay là khu L, xã H từ năm 1999 đến khoảng năm 2000, bà thấy ông H cho ông Đ mượn thửa ruộng, bà không nhớ rõ số tờ, số thửa, chỉ biết ruộng sứ đồng Dò Dưới, bà thấy ông Đ đào ao trên thửa ruộng ông H cho mượn nên bà không thu thuỷ lợi phí tưới nước nữa. Bà không biết việc ông H có chuyển nhượng ruộng của ông H cho ông Đ hay không, bà cũng không có thẩm quyền gì. Bà cũng không biết việc hai bên cho nhau mượn ruộng có viết giấy tờ gì hay không, bà không ghi chú gì về việc chuyển nhượng đất trong sổ thu phí thuỷ lợi. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có giấy tờ chuyển nhượng do Uỷ ban nhân dân xã, địa chính xã quản lý, theo dõi.
Ủy ban nhân dân xã H cung cấp thông tin:Thửa đất số 109, tờ bản đồ số 17: Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Xuân T1, hiện trạng ông Ngô Tiến Đ đang sử dụng. Thửa số 110, tờ bản đồ số 17: Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào Văn H, hiện trạng ông Ngô Tiến Đ đang sử dụng. Thửa số 111, tờ bản đồ số 17: Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H1, hiện trạng ông Ngô Tiến Đ đang sử dụng. Về mục đích sử dụng các thửa đất trên có nguồn gốc được cấp là đất chuyên trồng lúa nước, hiện trạng ông Ngô Tiến Đ đang sử dụng với mục đích nuôi trồng thuỷ sản. Việc sử dụng đất không đúng mục đích là do quá trình trước đây thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, các hộ tự thoả thuận với nhau, tuy nhiên các hộ có liên quan không cung cấp được giấy tờ gì về việc dồn đổi, việc chuyển mục đích sử dụng đất đã được ông Đ thực hiện từ khoảng những năm 2006-2008, không có văn bản chấp thuận nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc nộp thuế, lệ phí sử dụng đất đối với các thửa đất trên: Không có.
Tại phiên tòa, sau khi nghe giải thích của Hội đồng xét xử về việc đường dân sinh thuộc quyền quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên ông H xin thay đổi yêu cầu khởi kiện và không đề nghị ông Đ trả lại đường dân sinh đó. Xét thấy đề nghị thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của ông H là phù hợp quy định pháp luật nên không xem xét, giải quyết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS- ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào Nghị quyết số 49/2013/QH13 ngày 01/10/2013 của Quốc hội về kéo dài thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, các nhân; Nghị định số 126/2013/NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 49/2013/QH13 ngày 01/10/2013 của Quốc hội; Điều 71, 74, 105, 106, 107, 127 Luật đất đai 2003; Điều 706, Điều 707, Điều 122, Điều 127, Điều 131, Điều 132, Điều 689 Bộ luật dân sự 2005;
Điều134, 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 31, Điều 236 Luật đất đai 2024; Điều 668 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 131, Điều 132, Điều 407, 408 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 160, Điều 161, Điều 162, Điều 165, Điều 166, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu của ông Đào Văn H đối với ông Ngô Tiến Đ về việc kiện đòi lại quyền sử dụng đất. Không chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Tiến Đ về yêu cầu công nhận hiệu lực của Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 đối với thửa đất số 110 tờ bản đồ số 17. Tuyên bố giao dịch hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy biên nhận ngày 22/4/2006 vô hiệu.
Buộc ông Ngô Tiến Đ và bà Nguyễn Thị Đ1 phải tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, cá, lâm lộc trên đất, hoàn trả lại hiện trạng ban đầu, trả lại quyền sử dụng đất cho ông Đào Văn H và bà Lê Thị T thửa đất số 110 tờ bản đồ số 17, diện tích 283m² đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 375375 ngày 25/9/2000, tại khu L, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Theo Bản trích đo hiện trạng sử dụng đất do Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P lập ngày 23/4/2024(kèm theo).
Buộc ông Đào Văn H phải trả lại cho ông Ngô Tiến Đ số tiền là 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) mà ông Đào Văn H đã được nhận theo Giấy biên nhận ngày 22/4/2006.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Ngô Tiến Đ về yêu cầu ông Đào Văn H trả tiền đầu tư vào việc cải tạo ruộng lúa để nuôi cá và không chấp nhận yêu cầu hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17 nêu trên cho ông Ngô Tiến Đ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền và nghĩa vụ khác của đương sự theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Ngày 07/10/2024 ông Ngô Tiến Đ có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm, theo hướng chấp nhận Giấy biên nhận nhượng 280m² ruộng thửa 110, tờ bản đồ số 17.
Tại phiên toà phúc thẩm: Ông Ngô Tiến Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không bổ sung tài liệu chứng cứ mới. Tại phiên ông Nguyễn Tiến Đ2 đề nghị Hội đồng xét xử công nhận hợp đồng chuyển nhượng để ông được sử dụng đối với thửa đất nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán,Thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Dân sự. Bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Đ2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS – ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Tiến Đ2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên ông Đ2 là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện VKSND tỉnh; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Kháng cáo của ông Ngô Tiến Đ là bị đơn trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung kháng cáo của ông Ngô Tiến Đ không đồng ý bản án sơ thẩm với nội dung: Tòa án tuyên không thừa nhận ông Đào Văn H đã nhận 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng), do nhượng lại cho ông 280m² ruộng ở tờ bản đồ số 17, thửa 110, xứ Đồng Giò Dưới, Hội đồng xét xử xét thấy: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 22/4/2006 ông Đ và ông H có viết một giấy biên nhận được thể hiện: “ Hôm nay ngày 22/4/2006 tôi là Đào Văn H và vợ là Lê Thị T ở khu 15 xã H nhận của ông Ngô Tiến Đ ở khu G xã H số tiền là một triệu, hai trăm nghìn đồng, do thỏa thuận nhượng cho ông Đ 280m2 ruộng ở số thửa 109, tờ bản đồ 17 theo luật định. Trồng Đào Văn H”. Sau khi có sự trao đổi, ông Đ đã sử dụng sử dụng thửa 110 của ông H, ông đã đào ao thả cá từ năm 2003 cho đến nay nhưng không làm thủ tục để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì lúc đó ông H còn đang làm thủ tục thế chấp tại Ngân hàng nên chưa sang tên được. Ông Đ cũng báo cáo cán bộ đội trưởng lúc đó về việc chuyển diện tích đất của ông H sang cho ông. Quá trình giải quyết Tòa án đã lấy lời khai quan điểm của bà T (là vợ ông H), bà T cho rằng chỉ cho ông Đ mượn ruộng để cấy lúa, chỉ nói bằng miệng và hai bên đã thống nhất cho ông Đ mượn ruộng để ông cấy lúa, bà lấy 12.000đ tiền sản, thời hạn cho mượn đến năm 2013 (BL 91). Tại biên bản xác minh ngày 30/7/2024 (BL 90) thể hiện thửa đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng chung của ông H và bà T, các con ông H không liên quan gì. Như vậy, xác định đây là tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc về tài sản chung về chế độ tài sản của vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2013 và tại Điều 221 Bộ luật dân sự 2015 quy định căn cứ xác lập về quyền sở hữu. Như vậy, bà T đã biết việc ông Đ đã sử dụng thửa ruộng đang tranh chấp từ năm 2006 (đào ao thả cá), bà T không thắc mắc và không có ý kiến gì.
Tại Biên bản lấy lời khai của ông Đào Văn H ngày 24/7/2024 (BL 80) thể hiện: “……… Tôi không chuyển nhượng thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17 cho ông Đ. Tiêu đề của giấy là “ Giấy biên nhận” chứ không phải là “ Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất...”. Trong suốt quá trình giải quyết và tại các phiên tòa ông H đều cho rằng đây là giấy vay tiền, nhưng ông H không chứng minh được khoản tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) là khoản vay và cho đến bây giờ sau 19 năm ông H vẫn chưa trả cho ông Đ khoản tiền này. Nếu đặt trong trường hợp vay liệu ông Đ có để khoản vay 19 năm mà không đi đòi không?. Đồng thời, trong giấy biên nhận ông H viết vào ngày 22/4/2006 không thể hiện một chữ nào là “ vay nợ” mà giấy biên nhận thể hiện “... Do thỏa thuận nhượng cho ông Đ 280m² ruộng ở thửa số 109, tờ bản đồ 17 theo luật định”, trong giấy biên nhận chỉ ông H là người
ký tên. Điều này phù hợp với tài liệu chứng cứ và lời khai của đương sự, sau khi nhận ruộng của ông H, gia đình ông Đ đã đào ao thả cá từ năm 2006 cho đến nay, vợ chồng ông H, bà T không có ý kiến gì cho đến khi khởi kiện đến Tòa án là gần 20 năm. Mặt khác, gia đình ông H, bà T cách nhà ông Đ nơi có thửa ruộng đang tranh chấp khoảng 01km. Do vậy, buộc ông H, bà T phải biết việc gia đình ông Đ đã sử dụng thửa đất để đào ao thả cá, chứ không phải như lời trình bày của bà T là chỉ cho gia đình ông Đ mượn ruộng để cấy đến năm 2013. Mặc dù, ông H là chủ sử dụng đất nông nghiệp (đất lúa) đã không sử dụng đất 19 năm, mà đất lúa mục đích là trồng lúa nước mà ông H không sử dụng đất theo quy định của pháp luật không sử dụng đất nông nghiệp có thể sẽ bị thu hồi (trên thực tế ông H đã không sử dụng thửa ruộng này đã 19 năm).
Tại phiên tòa và quá trình tố tụng ông Đào Văn H đều cho rằng gia đình ông không có thửa đất số 109, tờ bản đồ 17, điều này phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự là: Tại thời điểm viết giấy biên nhận, ông H đang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 110, tờ bản đồ 17 nên các bên không nhớ chính xác thửa đất bán là thửa nào, nên khi ông H nói thửa 109 ông Đ cũng đồng ý và ghi vào giấy biên nhận, phù hợp với thực tế làm sao ông Đ biết thửa đất đó là thửa số bao nhiêu tờ bản đồ nào, diện tích bao nhiêu mà phải do ông H là người có đất cung cấp thông tin để ghi vào giấy biên nhận ngày 22/4/2006. Tại phiên tòa ông H trình bày ông chỉ cho ông Đ thuê ruộng với giá là 120.000₫ nhưng ông H không có tài liệu nào chứng minh về việc này, còn giấy biên nhận ngày 22/4/2006 là giấy vay nợ, tuy nhiên tại phiên tòa và quá trình giải quyết vụ án ông H không chứng minh đây là khoản tiền ông vay của ông Đ và ông cũng vẫn chưa trả khoản tiền này cho ông Đ. Do vậy, việc ông H cho rằng giấy viết ngày 22/4/2006 là giấy vay nợ không phải là chuyển nhượng là không có căn cứ.
Mặc dù, giấy viết về việc chuyển nhượng không đúng về hình thức theo quy định và chỉ có một mình ông H ký, không có chữ ký của bà T (là vợ của ông H ký). Tuy nhiên giữa ông H và ông Đ đã chuyển nhượng thửa đất với giá 1.200.000đ, hai bên đã bàn giao, sử dụng, ồn định không có tranh chấp gì từ năm 2006 cho đến nay. Căn cứ án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ – CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người ký tên hợp đồng chuyển nhượng cho người khác, người còn lại không ký tên nhưng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền, bên nhận chuyển nhượng đã nhận và quản lý sử dụng công khai, liên tục, người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng. Vì vậy, theo quy định tại Điều 129 Bộ luật tố tụng dân sự cần công nhận hiệu lực của giao dịch này.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông Ngô Tiến Đ đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông với ông H theo giấy chuyển nhượng ngày 22/4/2006. Đối với nội dung này tại Tòa án cấp sơ thẩm ông chưa đề nghị giải quyết do vậy cấp phúc thẩm không giải quyết được. Nội dung yêu cầu này đủ điều kiện ông Đ có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của ông Ngô Tiến Đ có căn cứ được chấp nhận. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS – ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ.
[2].Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận nên ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Châp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến Đ2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/DS – ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ.
Căn cứ Điều 129, Điều 221 Bộ luật dân sự; Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình; án lệ số 04/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ – CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Văn H.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Tiến Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án/.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Huyền |
9
Bản án số 32/2025/DS - PT ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 32/2025/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông H và ông Đ
