TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 32/2025/HS-ST. Ngày 08 - 4 - 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Sơn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trung Hiếu và bà Đặng Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/TLST - HS ngày 19 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST - HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Phạm Xuân T
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 11/3/1989 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Tổ D, phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Xuân Đ và bà Trần Thị H; có vợ Đoàn Thu T1 và 01 con.
- * Tiền án, tiền sự: Không.
- * Nhân thân: Bản án số 78/2007/HSST ngày 28/9/2007của TAND thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. (đã chấp hành xong).
- - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05 ngày 26/3/2010 của Công an thành phố T xử phạt 100.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích (đã nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
2. Nguyễn Ngọc M
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/02/1991 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn V (đã chết) và con bà Đoàn Thị H1; vợ Vũ Thị L (đã ly hôn); con: có 01 con.
- * Tiền án: Không.
- * Tiền sự: Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 20 ngày 30/9/2022 của TAND thành phố Tuyên Quang, thời gian 12 tháng (Chấp hành xong ngày 01/10/2023).
- * Nhân thân:
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36 ngày 15/02/2016 của CA phường H, thành phố T xử phạt 750.000 đồngvề hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 001465 ngày 21/7/2021 của Công an phường H, thành phố T xử phạt 2.250.000 đồng về hành vi Sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt đã hết thời hiệu).
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000103 ngày 27/6/2022 của Công an phường H, thành phố T xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 25/12/2024, Phạm Xuân T đón xe ô tô khách từ thành phố T đi đến bến xe M, thành phố Hà Nội để mua ma tuý (ma túy Cần sa) mục đích về bán cho người khác kiếm lời. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày T đến nơi và đi ra cổng bến xe thì gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ), T lại gần làm quen và hỏi “anh có biết ai bán cần sa không” người đàn ông nói “mày mua bao nhiêu”, T nói “nếu có thì mua 20.000.000 đồng”, người đó nói “chờ để hỏi”, rồi người đó đi đâu khoảng 10 phút sau quay lại và bảo T “Hàng đây”, T lấy 20.000.000 đồng gồm 40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đưa cho người đàn ông đó, người đó đưa lại cho T 05 túi nilon màu trắng, trong mỗi túi có chứa nhiều viên cục màu xanh, T cầm xác định đó là ma túy cần sa và cất giấu vào trong người, sau đó đón xe ô tô khách về nhà. Khi về đến nhà, T cất 05 túi ma tuý vừa mua được trong phòng ngủ của mình, hàng ngày T lấy ra dùng bằng cách vê vào điếu thuốc lào rồi hút.
Khoảng 19 giờ ngày 25/12/2024, Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991, trú tại thôn Y, xã H, huyện Y một mình từ nhà đi nhờ xe mô tô của người qua đường đến khu vực Trung tâm S thuộc phường A, thành phố T để tìm mua ma túy về sử dụng thì gặp T, do quen biết nhau và biết T có sử dụng ma túy loại cần sa nên M hỏi “có cần sa bán không”, T nói “có, giá một túi là 9.500.000 đồng được khoảng 50 gam”, M đồng ý và đưa cho T 9.500.000 đồng, T cầm tiền rồi đưa lại cho M 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có rãnh khóa đường kẻ màu đỏ, bên trong có chứa nhiều cục màu xanh, Minh xác định đó là ma túy cần sa nên cất giấu vào túi áo khoác rồi đi nhờ xe mô tô của người qua đường về nhà. Khi về đến nhà M lấy một ít ma túy vừa mua được ra sử dụng.
Khoảng 08 giờ ngày 27/12/2024, M tiếp tục lấy một ít ma túy ra sử dụng cho bản thân. Tới 13 giờ cùng ngày, Nguyễn Quốc V1 đến nhà M để hỏi mua ma túy, thấy M đang ngồi trước cửa nhà, V1 hỏi “Anh còn cần không bán cho em năm mươi nghìn”, ý hỏi mua 50.000 đồng ma túy cần sa, M hiểu ý và nói “đưa tiền đây”, V1 đưa cho M 50.000 đồng, M cầm tiền và nhờ V1 đi mua hộ cháo, còn M vào nhà lấy một gói ma tuý ra lấy một lượng nhỏ bỏ vào túi nilon (dạng túi zip) rồi cất vào túi quần bên phải, số còn lại trong túi M cất giấu trong túi áo khoác bên phải đang mặc để khi có ai mua thì bán kiếm lời; khoảng 30 phút sau V1 đi mua cháo về đến cổng nhà M, M đưa cho V1 01 túi nilon bên trong chứa ma túy cần sa, V1 cầm rồi nhồi vào điếu thuốc lá và đốt hút lấy khói vào cơ thể, khi V1 vừa sử dụng ma tuý xong thì tổ công tác Công an huyện Y phối hợp với Công an xã H đến kiểm tra, biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, M và V1 đã khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy cần sa, M tự giác giao nộp túi ma túy đang cất giấu trong túi áo khoác cho tổ công tác và khai nhận đã mua của Phạm Xuân T. Hồi 15 giờ 30 ngày 27/12/2024, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Ngọc M, thu giữ tang vật theo quy định.
Hồi 0 giờ 10 phút ngày 28/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Phạm Xuân T: phát hiện thu giữ 02 túi ma túy T đang cất giấu trong người và 02 túi ma túy tại ngăn kéo tủ quần áo trong phòng ngủ của T; thu giữ 01 cân điện tử màu bạc phần mặt lưng của cân có chữ DIGTAL POCKET SCALE.
Xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Phạm Xuân T, Nguyễn Ngọc M và Nguyễn Quốc V1 đều có kết quả (+) dương tính với chất ma túy. T, M và V1 khai nhận đã sử dụng ma túy trước đó.
Kết luận giám định số 10311/KL-KTHS ngày 03/01/2025, của V2 Bộ C kết luận mẫu vật gửi giám định (thu giữ của Nguyễn Ngọc M) là Cần sa, khối lượng 57,54 gam (Năm bẩy phẩy năm tư gam).
Kết luận giám định số 10312/KL-KTHS ngày 03/01/2025, của V2 Bộ C kết luận mẫu vật gửi giám định (thu giữ của Phạm Xuân T) là Cần sa, khối lượng 177,69 gam (Một bẩy bẩy phẩy sáu chín gam).
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSYS ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T và Nguyễn Ngọc M về tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân T, Nguyễn Ngọc M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Xuân T).
Xử phạt: Phạm Xuân T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2024.
Xử phạt: Nguyễn Ngọc M từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/12/2024
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: Số ma túy Cần sa đã thu giữ của các bị cáo còn lại sau khi giám định, 01 cân điện tử màu đen. Truy thu của bị cáo Phạm Xuân T 9.500.000 đồng và truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc M 50.000 đồng do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến tham gia tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và hòa nhập xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục thừa nhận hành vi phạm tội của mình, hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra. Ngoài lời khai nhận tội, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ ngày 25/12/2024, tại khu vực Trung tâm S thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Phạm Xuân T đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Ngọc M 01 túi ma túy Cần sa có khối lượng 57,54gam (Năm bẩy phẩy năm tư gam) với giá 9.500.000 đồng và tại nhà ở của mình Phạm Xuân T đang có hành vi tàng trữ trái phép 177,69 gam ma túy Cần sa, mục đích để bán kiếm lời, bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Y khám xét thu giữ cùng tang vật. Tổng khối lượng Cần sa T đã bán trái phép và tàng trữ để bán trái phép là 235,23 gam. Vào hồi 15 giờ 30 ngày 27/12/2024, tại nhà ở của mình thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Ngọc M đã có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Quốc V1 01 túi ma túy cần sa với giá 50.000 đồng và đang có hành vi Tàng trữ trái phép 57,54 gam ma túy Cần sa, mục đích để bán kiếm lời, bị tổ công tác Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang phát hiện bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo Phạm Xuân T và Nguyễn Ngọc M về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi bán trái phép chất ma túy của các bị cáo đi ngược lại với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, gây khó khăn cho công tác phòng chống ma túy, là nguyên nhân dẫn đến gia tăng các loại tội phạm và tệ nạn xã hội. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, sức khỏe của bản thân gia đình các bị cáo mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, do đó cần xử phạt tù nghiêm.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, mục đích mua ma túy về để bán kiếm lời. Mặc dù các bị cáo mới chỉ bán ma túy 01 lần nhưng số lượng ma túy Cần sa còn lại thu giữ được của các bị cáo nhằm mục đích để bán là nhiều đáng kể. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tù nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, đồng thời cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho cả hai bị cáo. Bị cáo Phạm Xuân T có bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, hiện bố bị cáo đang thờ cúng liệt sỹ (gia đình có công với cách mạng) nên cần áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với số ma túy còn lại sau khi đã giám định thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành và 01 cân điện tử, xét thấy cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với số tiền 9.500.000 đồng của Phạm Xuân T bán ma tuý cho Nguyễn Ngọc M và số tiền 50.000 đồng của bị cáo Nguyễn Ngọc Minh B trái phép chất ma túy cho Nguyễn Quốc V1. Xét thấy đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có cần truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Xuân T, Nguyễn Ngọc M và Nguyễn Quốc V1: Ngày 31/12/2024, Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 156, 157 xử phạt bằng hình thức: Cảnh cáo với T và M và Quyết định số 159 xử phạt 1.500.000 đồng đối với V1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy Cần sa cho Phạm Xuân T tại khu vực bến xe M thành phố Hà Nội: Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định, nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Xuân T, Nguyễn Ngọc M phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Xuân T.
- Xử phạt: Phạm Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 28/12/2024.
- Xử phạt: Nguyễn Ngọc M 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 27/12/2024.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 cân điện tử màu bạc, phần lưng của cân có chữ “Digtal Pocket Scale", cân cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong được dán kín bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả số 10311/C09(TT02) theo kết luận giám định số 10311/KLKTHS ngày 03/01/2025 của V2 - Bộ C”. Trên giấy niêm phong có chữ ký của bà Đoàn Thị Lệ H2 và ông Hoàng Thế Đ1 cùng các hình dấu của V2 - Bộ C; 01 hộp niêm phong được dán kín bằng giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có ghi chữ “Mẫu vật hoàn trả số 10312/C09(TT02) theo kết luận giám định số 10312/KL-KTHS ngày 03/01/2025 của V2 - Bộ C”. Trên giấy niêm phong có chữ ký của bà Đoàn Thị Lệ H2 và ông Hoàng Thế Đ1 cùng các hình dấu của V2 - Bộ C.
(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Sơn lập ngày 27/3/2025).
- Truy thu của bị cáo Phạm Xuân T số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng), là tiền do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.
- Truy thu của bị cáo Nguyễn Ngọc M số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), là tiền do phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo: Phạm Xuân T, Nguyễn Ngọc M mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (08/4/2025)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Thanh Sơn |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Pham Xuan T và Nguyen Ngoc M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
