Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 32/2025/DS-ST

Ngày: 02-4-2025

V/v tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Sở
  2. Bà Trịnh Thị Lệ Hoa

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29/3 và 02/4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-DS ngày 29/02/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 32/2025/QĐST-DS ngày 15/3/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Trí L, sinh năm 1967;
  2. Địa chỉ: số B D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trịnh Minh T, sinh năm 1985, địa chỉ: Địa chỉ: số A V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy uỷ quyền ngày 22/9/2023.

  3. Bị đơn: Công ty cổ phần T11
  4. Địa chỉ trụ sở: Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 52, KDC P, đường V, khu phố B, phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1991, địa chỉ: số F Đường số D, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, theo giấy uỷ quyền ngày 15/3/2025 của Giám đốc Công ty cổ phần T11.

(Ông T, ông P có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

* Nguyên đơn ông Nguyễn Trí L, đại diện nguyên đơn ông Trịnh Minh T trình bày:

Tháng 06/2019, ông L được giới thiệu dự án đất nền thuộc Dự án Khu Dân cư C, toạ lạc tại Phường D, Thành phố T, Tỉnh Long An, do Công ty Cổ phần T11 làm chủ đầu tư. Sau khi thương lượng, ông L đã đặt cọc 100.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng) để đặt vị trí mã lô D1-16 được xác nhận bằng Phiếu đặt vị trí Dự án KDC Phúc Long ngày 10/06/2019. Sau đó, ông L và Công ty T11 đã ký kết Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất khu dân cư cao cấp P D'Villa Centa số: DVE252/2019/HĐNT/VA-VC ngày 13/06/2019 nhằm mục đích đặt cọc để mua nền đất thuộc mã lô D1-16; diện tích: 92,4 m², tọa lạc trong Dự án Khu dân cư cao cấp Phúc Long D'Villa C với tổng giá trị là 1.570.800.000 VNĐ (bằng chữ: Một tỷ, năm trăm bảy mươi triệu, tám trăm nghìn đồng).

Ngay sau khi ký hợp đồng, ông L đã thanh toán đúng và đủ 04 đợt theo thoả thuận tại Phụ lục số 01 (đính kèm), với tổng số tiền thanh toán là 1.256.640.000 VNĐ (bằng chữ: một tỷ, hai trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, đến thời hạn bàn giao nền đất theo thỏa thuận, ông L nhận được thông báo số 206/2020/TB-VA ngày 02/06/2020 của Công ty T11 về việc cập nhật thời gian hoàn thiện hạ tầng và giao nền Dự án D'Villa C - Khu dân cư P với lý do Công ty T11 gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 và sự thay đổi chính sách Nhà nước, ... Vì vậy, thông báo cho ông L thời gian dự kiến giao nền là quý II/2021 và thời gian bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 06 tháng đến 08 tháng kể từ thời điểm bàn giao nền đất.

Tuy nhiên, sau khi đến thời điểm gia hạn theo thông báo nhưng Công ty T11 vẫn không có bất kì hành động nào liên quan đến việc bàn giao nền đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L. Mặc dù đã nhiều lần liên lạc và trao đổi, nhưng đến thời điểm hiện tại, Công ty T11 vẫn không có bất kì phản hồi hoặc phương án xử lý liên quan đến việc bàn giao.

Nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông L, yêu cầu Công ty Cổ phần T11 phải hoàn trả số tiền như sau:

  1. Yêu cầu Công ty Cổ phần T11 hoàn trả đúng và đủ toàn bộ 1.256.640.000 VNĐ (bằng chữ: một tỷ, hai trăm năm mươi sáu triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng);
  2. Yêu cầu Công ty Cổ phần T11 thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận tại Điều 4.1 Hợp đồng với lãi suất 12%/năm tương ứng với số tiền gốc mà ông L đã đóng, tạm tính từ ngày 12/09/2021 đến ngày khi xét xử .

* Bị đơn Công ty cổ phần T11, đại diện bị đơn bà Nguyễn Trần Thị Thanh T1 trình bày:

Công ty T11 là chủ đầu tư dự án Khu dân cư P tại đường V, phường D, thành phố T, tỉnh Long An theo Quyết định chủ trương đầu tư số 3717/QĐ-UBND ngày 15/10/2018 của UBND tỉnh L. Ngày 26/03/2019, Công ty T11 và ông L có ký kết Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với mã lô là D1-16 số: DVE252/2019/HĐNT/VA-VC ngày 13/06/2019 nhằm

3

mục đảm bảo chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong Dự án Khu dân cư cao cấp P – D'Villa Centa với tổng giá trị là 1.570.800.000 VNĐ (Bằng chữ: Một tỷ, năm trăm bảy mươi triệu, tám trăm nghìn đồng).

Từ thời điểm ký kết đến xuyên suốt quá trình thực hiện hợp đồng, ông L đều nằm rõ toàn bộ thông tin về dự án. Hợp đồng được giao kết và thực hiện trên tinh thần tự nguyện, thiện chí và hợp tác giữa các bên.

Thứ nhất, đối với yêu cầu hoàn trả số tiền cọc đã nhận là 1.256.640.000 VNĐ đồng: Như trình bày ở trên, Công ty T11 và ông L ký kết hợp đồng đặt cọc nhằm đảm bảo thực hiện, giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nền tại dự án. Đến thời điểm hiện tại Công ty vẫn rất thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng, thực hiện theo thoả thuận của các bên. Công ty T11 đã có Quyết định chủ trương đầu tư, quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500; báo cáo đánh giá tác động môi trường; Thẩm duyệt thiết kế về Phòng cháy chữa cháy, thẩm định thiết kế cơ sở, thoả thuận đấu nối điện, nước... Công ty T11 vẫn đang tích cực thực hiện các thủ tục dự án để tiến hành bàn giao nền, giấy chứng nhận cho nguyên đơn. Do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu trên.

Thứ hai, đối với các yêu cầu trả tiền lãi do Công ty T11 chậm thực hiện nghĩa vụ của nguyên đơn: Trong quá trình triển khai dự án Công ty T11 gặp phải các sự kiện bất khả kháng như dịch bệnh Covid 19, Chính sách rà soát dự án của cơ quan nhà nước khiến dự án KDC P buộc phải tạm ngừng nhiều lần, thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, cụ thể:

  1. Ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19 làm dự án bị tạm ngừng: Trong quá trình triển khai dự án Công ty T11 gặp phải dịch bệnh Covid 19 từ năm 2020 đến cuối năm 2021, do đó Công ty T11 phải tạm ngừng thực hiện các thủ tục dự án theo các quy định phòng chống dịch của nhà nước.
  2. Ủy ban nhân dân tỉnh L rà soát toàn bộ dự án, khiến dự án KDC P bị tạm ngừng: Trong suốt khoảng thời gian từ năm 2018 đến năm 2023, các dự án phải tạm ngưng để thực hiện rà soát đối với các dự án bị vướng mắc theo quy định của nghị định 30/2015/NĐ-CP theo chủ trương của tỉnh Long An.

Các sự kiện bất khả kháng nêu trên được quy định tại Điều 6 hợp đồng đặt cọc mà các bên đã ký kết và Công ty T11 được miễn trừ trách nhiệm vi phạm hợp đồng trong trường hợp này. Phía công ty T11 đang cố gắng đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, đảm bảo thực hiện đúng các thoả thuận của các bên. Do đó, Công ty T11 đề nghị hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Từ những phân tích trên Công ty T11 đề nghị tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện nguyên đơn Trịnh Minh T xác định ông Nguyễn Trí L thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: ông Nguyễn Trí L yêu cầu Công ty Cổ phần T11 hoàn trả 1.219.440.000đ; không yêu cầu Công ty T11 thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận tại Điều 4.1 Hợp đồng với lãi suất 12%/năm từ ngày 12/09/2021 đến ngày khi xét xử mà thay đổi là yêu cầu Công ty T11 thanh toán tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 12/9/2021 đến khi xét xử sơ thẩm.

4

Đại diện bị đơn Nguyễn Tấn P xác định thống nhất số tiền Công ty T11 đã nhận của ông Nguyễn Trí L là 1.219.440.000đ; không đồng ý thanh toán tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm như đại diện nguyên đơn yêu cầu.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Nguyên đơn yêu cầu công ty T11 trả 1.256.640.000đ tiền nguyên đơn đã đóng. Công ty đã thanh toán chiết khấu lại 37.200.000đ tại phiếu chi ngày 15/6/2019, nên thực chất ông L chỉ thanh toán 1.219.440.000đ. Do vậy, cần buộc công ty T11 trả cho ông L 1.219.440.000đ thực tế đã nhận.

Về yêu cầu tính lãi với số tiền 321.490.400đ do chậm giao nền và chậm giao sổ. Xét thấy do hợp đồng vô hiệu nên về yêu cầu tính lãi của ông L là không có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Ông Nguyễn Trí L khởi kiện tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tọa lạc tại thành phố T, tỉnh Long An. Căn cứ vào Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Về quan hệ tranh chấp: Hợp đồng các bên đang tranh chấp có tên gọi là “hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đặt cọc như sau: "Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đầy gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng." Nội dung, điều khoản của hợp đồng không thể hiện số tiền đặt cọc là bao nhiêu, biện pháp đảm bảo để các bên thực hiện việc giao kết hay thực hiện hợp đồng là gì. Nội dung hợp đồng thể hiện về phương thức và thời hạn thanh toán toàn bộ giá trị thửa đất, các thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên. Tại phụ lục số 01 về chi tiết tiến độ thanh toán, nội dung phụ lục ghi nhận là “Căn cứ theo Điều 1 và các điều khoản khác của Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử dụng đất...” mà không ghi là Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Từ phân tích trên cho thấy bản chất “hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” mà các bên tranh chấp là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

5

Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện: Việc ông Nguyễn Trí L yêu cầu Công ty Cổ phần T11 hoàn trả 1.219.440.000đ và thanh toán tiền lãi chậm trả với mức lãi suất 10%/năm từ ngày 12/9/2021 đến khi xét xử sơ thẩm là không vượt quá phạm vi khởi kiện bên đầu.

[2] Về nội dung:

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trí L về việc yêu cầu Công ty T11 trả lại số tiền là 1.219.440.000đ, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Từ sự thống nhất trong lời trình bày của ông Nguyễn Trí L và đại diện của Công ty T11 có cơ sở xác định vào ngày 13/6/2019, ông Nguyễn Trí L và Công ty T11 có ký kết với nhau Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Nội dung Hợp đồng thể hiện ông Nguyễn Trí L đồng ý mua nền đất ở trong Dự án Khu dân cư cao cấp Phúc Long thuộc lô D1; nền số 16; mã lô D1-16; diện tích 92,4m2; mục đích sử dụng: xây dựng nhà ở; số tiền chuyển nhượng là 1.570.800.000 đồng. Ông L có nghĩa vụ thanh toán giá trị đất theo phụ lục số 01 kèm theo hợp đồng. Công ty T11 có nghĩa vụ giao nền cho ông L dự kiến là Q 2 năm 2020 và bàn giao Giấy chứng nhận cho ông L sau 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Thực hiện hợp đồng, ông L đã thánh toán 04 lần với tổng số tiền là 1.219.440.000 đồng; Công ty T11 đã thực hiện dự án đầu tư và được UBND thành phố T phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết 1/500, phê duyệt phòng cháy, chữa cháy; thẩm định thiết kế cơ sở, đã đầu tư hạ tầng giai đoạn 1. Đến nay, Công ty T11 chưa giao nền và Giấy chứng nhận cho ông L.

Xét thấy, Dự án khu dân cư P tại đường V, phường D, thành phố T, tỉnh Long An do Công ty T11 làm chủ đầu tư đã được UBND tỉnh L ra quyết định chủ trương đầu tư tại Quyết định số 3717/QĐ-UBND ngày 15/10/2018. Tại thời điểm ông Nguyễn Trí L và Công ty T11 ký kết hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2019 thì Công ty T11 chưa được UBND tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất theo quy định.

Căn cứ vào điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thực hiện dự án đầu tư kết cấu hạ tầng được quy định tại khoản 2 Điều 168, khoản 1 Điều 194 Luật đất đai thì việc Công ty T11 và ông L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong Dự án Khu dân cư cao cấp Phúc Long trong khi Công ty T11 chưa được cấp giấy chứng nhận là không đúng quy định. Căn cứ vào Điều 123 Bộ luật Dân sự xác định hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.

Đến ngày 24/3/2023, Ủy ban nhân dân tỉnh L có văn bản số 2337/UBND-KTTC về việc chấm dứt hoạt động dự án khu dân cư P với diện tích khoảng 94.295m² tại phường D, thành phố T, tỉnh Long An của Công ty Cổ phần T11 với lý do: Công ty Cổ phần T11 có Quyết định số 83/2023/QĐ-VA ngày 08/3/2023 và Thông báo ghi ngày 08/3/2023 về việc chấm dứt hoạt động dự án Khu dân cư P (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 Luật Đầu tư năm 2020 là nhà đầu tư quyết định chấm dứt hoạt động dự án). Như vậy, đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng không còn nên hợp đồng không thể thực

6

hiện được. Như vậy, đối tượng trong hợp đồng không còn nên đại diện Công ty T11 đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng là không có cơ sở.

Từ nhận định nêu trên có cơ sở kết luận Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 13/6/2019 giữa ông L và Công ty T11 vô hiệu từ thời điểm giao kết hợp đồng. Căn cứ quy định về giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự thì các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Vì vậy, ông L yêu cầu Công ty T11 trả lại số tiền 1.219.440.000đ đã nộp là có sơ sở nên chấp nhận.

2.2. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trí L yêu cầu Công ty T11 thanh toán do chậm chậm trả với lãi suất 10%/năm trên số tiền 1.219.440.000đ từ ngày 12/09/2021 đến ngày khi xét xử, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 13/6/2019 giữa ông L và Công ty T11 được kết luận vô hiệu tại thời điểm giao kết. Nên các thỏa thuận về phạt vi phạm, trách nhiệm khi chậm bàn giao nền và sổ được thỏa thuận trong hợp đồng đều không có hiệu lực để thực hiện.

Xét lỗi và thiệt hại của hợp đồng vô hiệu: Nguyên nhân dẫn đến hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 13/6/2019 giữa ông L và Công ty T11 vô hiệu là do tại thời điểm ký kết hợp đồng, Công ty T11 chưa được UBND tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, chưa được cấp giấy chứng nhận theo quy định nên đã vi phạm điều cấm của luật. Bản thân Công ty T11 và ông L đều biết rõ tình trạng pháp lý của đối tượng trong hợp đồng nhưng vẫn tiến hành giao kết và thực hiện một phần hợp đồng cụ thể: ông L đã thánh toán 04 lần với tổng số tiền là 1.219.440.000 đồng; Công ty T11 đã thực hiện sự án đầu tư và được UBND thành phố T phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết 1/500, phê duyệt phòng cháy, chữa cháy; thẩm định thiết kế cơ sở, đã đầu tư hạ tầng giai đoạn 1. Như vậy, lỗi dẫn đến hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 13/6/2019 vô hiệu là lỗi hỗn hợp.

Căn cứ hướng dẫn xác định thiệt hại quy định tại điểm c tiểu mục 2.3 mục 2 Phần I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc xác định thiệt hại dựa trên định giá giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo chủ trương của UBND tỉnh L về việc rà soát dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh thì ngày 24/3/2023 Ủy ban nhân dân tỉnh L có văn bản số 2337/UBND-KTTC về việc chấm dứt hoạt động dự án khu dân cư P khu dân cư P nên đối tượng trong hợp đồng không còn. Vì vậy, không có cơ sở xác định thiệt hại để xem xét.

Ngày 24/3/2023, Ủy ban nhân dân tỉnh L đã có văn bản số 2337/UBND-KTTC về việc chấm dứt hoạt động dự án khu dân cư P của Công ty Cổ phần T11. Kể từ ngày 24/3/2023 đối tượng trong hợp đồng đã không còn nên Công ty Cổ phần T11 vẫn chiếm dụng số tiền 1.219.440.000₫ của ông Nguyễn Trí L là không phù hợp.

Vì vậy chỉ có cơ sở chấp nhận yêu cầu ông Nguyễn Trí L về việc yêu cầu Công ty T11 thanh toán do chậm trả với lãi suất 10%/năm trên số tiền 1.219.440.000đ từ ngày 24/3/2023 đến ngày khi xét xử.

7

Cụ thể tiền lãi được tính như sau:

Tiền lãi từ 24/3/2023 đến 02/4/2025: 1.219.440.000₫ x 10%/năm x 375 ngày = 125.285.000₫.

[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Nguyễn Trí L phải chịu án phí do bị bác một phần yêu cầu là 9.304.500₫.

Công ty T11 phải chịu án phí do phải trả tiền là 52.342.000đ.

[4] Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 123, 131, 500, 501 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 167, 168, 188, 194 Luật đất đai 2013;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trí L.
    1. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng nguyên tắc đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số DVE252/2019/HĐNT/VA-VC ngày 13/6/2019 giữa ông Nguyễn Trí L và Công ty cổ phần T11.
    2. Buộc Công ty cổ phần T11 hoàn trả cho ông Nguyễn Trí L số tiền 1.219.440.000đ (một tỷ, hai trăm mười chín triệu, bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
    3. Buộc Công ty cổ phần T11 trả lãi chậm trả từ 24/3/2023 đến 02/4/2025 là 125.285.000đ (một trăm hai mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi lăm nghìn đồng).
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trí L về việc yêu cầu Công ty cổ phần T11 trả lãi chậm trả từ 12/9/2021 đến 23/3/2023 là 186.090.000₫ (một trăm tám mươi sáu triệu, không trăm chín mươi nghìn đồng).
  3. Về án phí:

    Ông Nguyễn Trí L phải chịu án phí là 9.304.500đ. Chuyển số tiền 9.304.500₫ trong tạm ứng án phí đã nộp 29.430.053đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001327 ngày 03/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An thành án phí. H lại cho ông Nguyễn Trí L số tiền 20.125.553₫ (hai mươi triệu, một trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm năm mươi ba đồng).

    Công ty T11 phải chịu án phí 52.342.000đ (năm mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

8

  1. Về nghĩa vụ thi hành án:
    1. Về nghĩa vụ chậm thi hành án:

      Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

    2. Về hướng dẫn thi hành án dân sự:

      Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tạiĐiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  2. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - CC.THADS TP Tân An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Thị Thu Thảo

9

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Kim Loan

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn S - Nguyễn Thị T2 Trương Kim Loan

10

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 12 năm 2021

Tại: Trụ sở tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Kim L2

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn S

2/ Bà Nguyễn Thị T2

Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý 105/2021/TLST–DS ngày 07 tháng 04 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thụy Anh T3, sinh năm 1997;
  2. Địa chỉ: Số H đường C, phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hải Kim L1, sinh năm 1988 (có mặt);

    Địa chỉ: Số A C (lầu C), Phường N, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh, theo hợp đồng ủy quyền ngày 29/3/2021.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đại diện nguyên đơn: Ông Nguyễn T4 là Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Võ Văn T5, sinh năm 1970;
  4. Địa chỉ: Số A đường N, phường G, thành phố T, Long An.

    Địa chỉ liên lạc: Số F hẻm F đường C, phường G, thành phố T, Long An.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Văn T6, sinh năm 1986 (có mặt);

    Địa chỉ: số A ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An, theo hợp đồng ủy quyền ngày 22/3/2021.

11

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T7, là Luật sư của Chi nhánh Công ty L4, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Kim T8, sinh năm 1963 (có đơn xin vắng mặt);
  2. Địa chỉ: A L, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người làm chứng:
    1. Bà Trần Kim Thủy T9, sinh năm 1970 (có mặt);
    2. Địa chỉ: Số G đường C, phường E, thành phố T, tỉnh Long An.

    3. Ông Bạch Thành T10, sinh năm 1985 (có đơn xin vắng mặt);
    4. Địa chỉ: Số C ấp B, xã B, thành phố T, tỉnh Long An.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 228, 229, khoản 2 Điều 244, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 117, 328 Bộ luật dân sự 2015;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,

QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU

Sau khi thảo luận Hội đồng xét xử thống nhất biểu quyết 3/3.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thụy Anh T3.
  2. Buộc ông Võ Văn T5 phải trả cho bà Nguyễn Thụy A Thư tiền cọc 1.100.000.000₫ (một tỷ một trăm triệu đồng) và tiền phạt cọc 1.100.000.000₫ (một tỷ một trăm triệu đồng), tổng cộng 2.200.000.000đ (hai tỷ hai trăm triệu đồng).

  3. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu của bà T3 về việc yêu cầu ông T5 trả số tiền là 31.000.000đ (ba mươi mốt triệu đồng) và số tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tính trên tổng số tiền ông T5 đã nhận.
  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 05/2021/QĐ-BPKCTT ngày 12/04/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ”.
  5. Về án phí:
  6. Bà Nguyễn Thụy Anh T3 được nhận lại số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), 39.143.500đ (ba mươi chín triệu một trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005301 ngày 07/04/2021, số 9991021 ngày 22/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.

12

Ông Võ Văn T5 phải chịu án phí với mức thu là 76.000.000đ (bảy mươi sáu triệu đồng).

  1. Về nghĩa vụ thi hành án:
    1. Về nghĩa vụ chậm thi hành án:

      Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

    2. Về hướng dẫn thi hành án dân sự:

      Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tạiĐiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  2. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nghị án kết thúc vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 29/12/2021.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn S - Nguyễn Thị Tĩnh Trương Kim L2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 32/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trí L hợp đồng chuyển nhượng Cty T11
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger