|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày 26 tháng 3 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đức Xiêm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thủy
2. Ông Hà Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đức C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1978 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức T, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1952; Vợ: Hán Thị P, sinh năm 1980; có 03 con; lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2010;
Tiền án: Bản án số 12 ngày 30/11/2020, TAND huyện Lâm Thao xử phạt 35.000.000VNĐ về tội Đánh bạc. Chấp hành xong ngày 27/12/2024.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
2. Họ và tên: Hán Văn N1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/4/1996 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hán Văn T1, sinh năm:1972 và bà Nguyễn Thị N2, sinh năm: 1973; vợ Nguyễn Thị Kim N3, sinh năm 1999; có 01 con sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 15 ngày 05/02/2015 bị TAND huyện Lâm Thao xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Trọng Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 18/10/2000 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm: 1975 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1976; vợ: Bùi Thị Thu H1, sinh năm 2003; có 01 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
4. Họ và tên: Hán Văn T3; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1981; nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hán Văn T4, đã chết và bà Nguyễn Thị K, đã chết; vợ: Nguyễn Thị T5, sinh năm 1983; có 02 con; lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
5. Họ và tên: Nguyễn Khắc C1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/7/1977 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc V, đã chết và bà Hoàng Thị N4, sinh năm 1937; vợ: Hán Thị T6, sinh năm 1974; có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
6. Họ và tên: Nguyễn Đức T7; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/4/1979 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1953 và bà Hán Thị N5, sinh năm 1952; Vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1982; Có 03 con, lớn sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo T7: Bà Bùi Thu H2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P, có mặt.
7. Họ và tên: Hoàng Xuân D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/02/1994 tại huyện L, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu H, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn Đ1, đã chết và Đặng Thị Đ2, sinh năm 1958; Vợ: Cấn Thị Á (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 27/12/2024, Hoàng Xuân D cùng Hán Văn N1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức C, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 đến ăn tân gia tại nhà anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1982 ở khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi ăn cỗ xong, đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức C, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi bài Liêng, thắng thua bằng tiền. Lúc này, chủ nhà là anh Nguyễn Ngọc A không có nhà nên không có ai hỏi ý kiến anh A có đồng ý cho đánh bạc tại nhà anh A hay không. Tất cả cùng nhau đi vào gian phòng ngủ nhà anh A ngồi trên chiếc chiếu mành đã được trải sẵn trên nền nhà, lúc này Nguyễn Trọng Đ lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn trong phòng ngủ để sử dụng đánh bạc. Quá trình đánh bạc thì có anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1980 và anh Hán Xuân Đ3, sinh năm 1982, đều ở xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ đến ngồi xem, không tham gia đánh bạc.
Các đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh bài Liêng, thắng thua bằng tiền Việt Nam đang lưu hành. Các đối tượng đánh bạc liên tục đến 19 giờ 15 phút cùng ngày thì Công an huyện L phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm bắt quả tang tạm giữ số tiền 7.000.000đ trên chiếu bạc; kiểm tra người của Hán Văn T3 phát hiện trong túi quần đang mặc có 1.100.000đ; 52 quân bài tú lơ khơ đã qua sử dụng và 01 chiếu mành đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, các bị cáo khai nhận khi đánh bạc đã quy định thống nhất về cách thức bài và mức tiền cược cụ thể như sau: Khi bắt đầu đánh bạc, một người chơi bất kỳ sử dụng 52 quân bài chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài. Sau đó so sánh bài với nhau. Người chơi nào có bài cao nhất được cầm cái ở ván bạc đầu tiên và được quyền tố trước. Bắt đầu một ván bạc, mỗi người bỏ ra 10.000đ để đặt cược (tiền gà). Sau đó người cầm cái sử dụng 52 quân bài chia đều cho mỗi người chơi 03 quân bài. Các quân bài được người chơi giấu kín, không để những người chơi khác biết 03 quân bài của mình. Sau khi chia bài xong, người cầm cái có quyền tố trước hoặc bỏ bài. Những người chơi còn lại lần lượt từ phải qua trái của người cầm cái lựa chọn một trong các hình thức sau để tham gia ván bạc:
- Tố: Là người chơi tăng mức tiền đặt cược trong ván bạc.
- Cân: Người chơi phải bỏ ra số tiền tương ứng bằng tổng số tiền của những người chơi đã tố trước đó để tiếp tục ván bạc.
- Bỏ bài: Không tham gia đặt cược, bỏ ván chơi hiện tại. Người bỏ bài sẽ mất số tiền đã tố hoặc tiền đã đặt cược trước đó.
Ván bạc kết thúc trong các trường hợp:
- Khi tất cả những người chơi khác Bỏ bài, người ngồi cuối cùng liền kề phía bên tay phải của người cầm cái thắng và được lấy tiền đặt cược của tất cả những người chơi đã đặt cược trước đó.
- Khi một người chơi tố, tất cả những người chơi còn lại Bỏ bài. Người Tố thắng và được lấy tiền của người chơi khác đã đặt cược.
- Khi một người chơi tố, tất cả những người chơi còn lại Cân. Tất cả người chơi so sánh bài với nhau để xác định thắng thua.
- Khi có người chơi tố, những người còn lại Cân hoặc Bỏ bài. Người chơi tố và người Cân so sánh bài với nhau để xác định thắng thua.
- Sáp: Là có 03 quân bài có số hoặc chữ giống nhau. Bộ sáp lớn nhất là bộ A1, sau đó lần lượt từ cao xuống thấp là các bộ: K; Q; J; 10; 9; 8; 7; 6; 5; 4; 3; 2;
- Liêng: là bộ bài có 3 quân bài liên tiếp, liền kề nhau về số hoặc chữ, không cần cùng chất (Bao gồm cả bộ A1, 2, 3 và Q, K, A). Bộ A1, 2, 3 là bộ nhỏ nhất. Bộ L1, K, A là bộ lớn nhất. Không tính bộ K1, A, 2.
Nếu người chơi có cùng là liêng thì cũng so sánh giá trị quân bài lớn nhất. Q bài có giá trị cao nhất là quân A, sau đó lần lượt từ cao xuống thấp là các quân: K; Q; J; 10; 9; 8; 7; 6; 5; 4; 3; 2. Nếu có cùng giá trị quân bài thì so sánh về chất. Chất có giá trị cao nhất lần lượt là chất “Rô♦”, “Cơ ♥”, “Tép ♣”, “Bích ♠”;
- Ảnh: Là bộ bài có 03 quân bài chỉ có các quân bài J, Q, K và một trong các quân J, Q, K phải lặp lại 02 lần. Nếu người chơi có bài cùng “Ảnh” thì bộ “Ảnh” nào có quân bài cao hơn thắng. Q bài có giá trị cao nhất trong bộ “Ảnh” lần lượt là K, Q, J. Nếu có cùng bộ Ảnh thì so sánh về chất. Chất có giá trị cao nhất lần lượt là chất “Rô♦”, “Cơ ♥”, “Tép ♣”, “Bích ♠”.
- Điểm: Nếu người chơi không có bài Sáp, L, Ảnh thì so sánh điểm bài với nhau. Người chơi tự cộng số điểm có trên 03 quân bài của mình để xác định thắng - thua. Cách tính điểm bài như sau:
Q bài A được tính tương ứng bằng 1 điểm; Các quân bài 10, J, Q, K được tính tương ứng 0 điểm.
Các quân bài 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 được tính tương ứng, lần lượt là 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 điểm;
Tổng điểm của 03 quân bài lấy số hàng đơn vị làm điểm bài để xác định thắng - thua. Điểm bài cao nhất là điểm bài có số hàng đơn vị là “9”; Sau đó lần lượt từ cao xuống thấp là: 8; 7; 6; 5; 4; 3; 2; 1; 0.
Nếu người chơi có điểm bài bằng nhau thì so sánh về chất của quân bài. Chất cao nhất là chất “Rô ♦”, sau đó lần lượt là các chất “Cơ ♥”, “Tép ♣”, “Bích ♠”. Nếu có cùng chất thì so sánh về giá trị của quân bài. Q bài có giá trị cao nhất là quân A, sau đó lần lượt là các quân K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, A “Cơ ♥”, A "Tép ♣", A "Bích ♠";
- Cách so sánh trong bài Liêng để xác định thắng thua như sau: Bộ lớn nhất là bộ Sáp, sau đó lần lượt là: Liêng, Ảnh, Đ4 (Điểm bài cao nhất có số hàng đơn vị là 9, sau đó lần lượt là 8; 7; 6; 5; 4; 3; 2; 1; 0)
Trong một ván bạc, mỗi người chơi không được tố quá 4 lần. Mức tố tối thiểu là 10.000đ. Mức tố tối đa là 100.000đ.
Khi tham gia đánh bạc Nguyễn Đức C đem theo, sử dụng số tiền 3.000.000đ để đánh bạc; khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 3.020.000đ. Nguyễn Trọng Đ sử dụng số tiền 1.120.000đ để đánh bạc; khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 1.070.000đ. Hán Văn T3 đem theo số tiền 2.000.000đ, sử dụng số tiền 900.000đ để đánh bạc; khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 1.080.000đ; trên người của T3 có số tiền 1.100.000đ T3 không sử dụng để đánh bạc. Nguyễn Đức T7 đem theo, sử dụng số tiền 680.000đ để đánh bạc; khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 690.000đ. Hoàng Xuân D sử dụng số tiền 500.000đ để đánh bạc, khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 450.000đ. Hán Văn N1 sử dụng số tiền 400.000đ để đánh bạc, khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 560.000đ. Nguyễn Khắc C1 đem theo, sử dụng số tiền 400.000đ để đánh bạc; khi bị phát hiện, bắt quả tang, tại vị trí ngồi đánh bạc có 130.000đ.
Như vậy xác định tổng số tiền các đối tượng Hoàng Xuân D, Hán Văn N1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức C, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 sử dụng để đánh bạc là 7.000.000đ.
Ngày 27/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Ngọc A tại khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan điều tra không tạm giữ, thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngày 03/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức C, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 về hành vi đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số: 12/CT-VKSLT ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức C;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hán Văn N1;
Xử phạt bị cáo Hán Văn N1 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1, 2, 4 Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân D
Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân D từ 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025). Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; khoản 1, 2, 4 Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Đức T7, Nguyễn Trọng Đ và Hán Văn T3
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ từ 15 tháng cải tạo không giam giữ đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025). Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Xử phạt các bị cáo Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 từ 12 tháng cải tạo không giam giữ đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025). Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ và Hán Văn T3 mỗi bị cáo phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) đến 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đức T7.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu mành đều đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc.
Trả lại cho bị cáo Hán Văn T3 số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) là tiền thu giữ trên người của T3, không sử dụng để đánh bạc nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Người bào chữa cho bị cáo T7 trình bày quan điểm: Nhất trí với tội danh và hình phạt theo như đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo T7; đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc và xem xét cho bị cáo T7 được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Ngày 27/12/2024, tại gia đình anh Nguyễn Ngọc A ở khu A, xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh liêng, được thua bằng tiền, tổng số tiền dùng để đánh bạc bị cơ quan công an phát hiện thu giữ tại chiếu bạc là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).
Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Nguyễn Đức C và đồng phạm phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết rằng đánh bạc không những là vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình nhưng vẫn cố tình vi phạm. Vì vậy, cần phải đưa các bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt tương xứng mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, để các bị cáo trở thành người công dân có ích.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như sau:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng chung ý chí đánh bạc với nhau được thua bằng tiền với mục đích vụ lợi, có vai trò ngang nhau vì cùng rủ rê đánh bạc; bị cáo Đ là người chủ động lấy quân bài dùng vào việc đánh bạc; về số tiền mà các bị cáo dùng vào việc đánh bạc thì bị cáo Nguyễn Đức C có số tiền dùng vào việc đánh bạc là lớn nhất sau đó đến bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Hán Văn T3, Nguyễn Đức T7, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1 và Hán Văn N1.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, bị cáo là người đang có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”; tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc; điều đó cho thấy sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích.
Đối với bị cáo Hán Văn N1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân, sửa chữa, khắc phục sai lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội mà còn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, bị Tòa án đưa ra xét xử thể hiện sự coi thường pháp luật; do vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo là phù hợp.
Các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Hán Văn T3, Nguyễn Đức T7, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Hán Văn T3, Nguyễn Đức T7, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1 đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Khắc C1, Hán Văn T3 đều có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; bị cáo Nguyễn Trọng Đ có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng huân chương kháng chiến; bị cáo Nguyễn Đức T7 là người nhiễm chất độc màu da cam (gián tiếp) do đó các bị cáo Chung, T3, Đ, T7 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, các bị cáo D, T7, C1, T3, Đ đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo Chung, T3, T7 có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt nhẹ hơn so với các bị cáo khác; bị cáo Đ mặc dù có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền lớn và là người chủ động lấy quân bài dùng vào việc đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt nặng hơn so với các bị cáo Chung, T3, T7.
Về khấu trừ thu nhập: Xét thấy các bị cáo D, T7, C1, T3, Đ là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo nhưng cần áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự buộc các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động công ích để phục vụ cộng đồng là phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) đến 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Xét thấy, các bị cáo đánh bạc vì mục đích tư lợi cá nhân, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng; do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp; bị cáo T7 đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) các bị cáo dùng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu mành đều đã qua sử dụng là tài sản của anh Nguyễn Ngọc A được các bị cáo sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội; tại phiên tòa anh A có quan điểm các vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng, không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) là tiền thu giữ trên người của bị cáo T3, do T3 không sử dụng số tiền này để đánh bạc nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là phù hợp.
Đối với Nguyễn Ngọc A là chủ nhà nơi các bị cáo đánh bạc; tuy nhiên khi các bị cáo đánh bạc, anh A không có mặt ở nhà, không biết các đối tượng đánh bạc, không được hưởng lợi ích gì. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn M1, Hán Xuân Đ3 có mặt tại nơi đánh bạc nhưng không tham gia đánh bạc cũng không có hành động, cử chỉ, lời nói giúp sức cho các bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý là phù hợp.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đức C;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hán Văn N1;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, 2, 4 Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hoàng Xuân D;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, 2, 4 Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Đức T7, Nguyễn Trọng Đ và Hán Văn T3;
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng) thu giữ của các bị cáo trên chiếu bạc. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếu mành kích thước 1,9m x 1,2 m đều đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Trả lại cho bị cáo Hán Văn T3 số tiền 1.100.000đ (một triệu một trăm nghìn đồng) đã thu giữ của Hán Văn T3, không sử dụng để đánh bạc nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Thao và Công an huyện L)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7 và Hán Văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 07 (bảy) tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Hán Văn N1 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo được trừ đi thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025), thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân D 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ là 07 (bảy) ngày (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025) quy đổi thành 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 14 (mười bốn) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Hoàng Xuân D cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ là 07 (bảy) ngày (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025) quy đổi thành 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 14 (mười bốn) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Trọng Đ cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T7 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ là 07 (bảy) ngày (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025) quy đổi thành 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Đức T7 cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc C1 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ là 07 (bảy) ngày (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025) quy đổi thành 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Khắc C1 cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Xử phạt bị cáo Hán Văn T3 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ là 07 (bảy) ngày (từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025) quy đổi thành 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị cáo phải chấp hành là 11 (mười một) tháng 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh P nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo. Giao bị cáo Hán Văn T3 cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện L, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Hoàng Xuân D, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7, Nguyễn Khắc C1 và Hán Văn T3. Buộc các bị cáo Hoàng Xuân D, Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Đức T7, Nguyễn Khắc C1 và Hán Văn T3 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự về cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Hán Văn N1, Hoàng Xuân D, Nguyễn Khắc C1, Nguyễn Trọng Đ và Hán Văn T3 mỗi bị cáo phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đức T7.
Nơi nhận:
- - Các bị cáo; những người tham gia tố tụng;
- - TAND tỉnh Phú Thọ;
- - VKSND tỉnh, huyện;
- - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Phú Thọ;
- - Chi cục THADS huyện Lâm Thao; - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
- - UBND xã Bản Nguyên, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ;
- - Lưu: HSVA, VP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Đức Xiêm |
Bản án số 32/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 32/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố các bị cáo phạm tội đánh bạc
