Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 32/2025/HS - ST.

Ngày: 25/3/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:+ Bà Ngô Thị Luân.

+ Bà Trần Thị Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy - Là thư ký của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên Tòa số 04/2025/HSST- QĐ ngày 05/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Ngọc Q; sinh năm: 2002; tại Đắk Lắk; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị Y; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Hoàng Văn M; sinh năm: 2003; tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở hiện nay: Q, đường L, tổ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V1 và bà Phạm Thị T; gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ trong gia đình; tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Hoàng Thanh M1; sinh năm: 2000; tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M2 và bà Lưu Thị Đ; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Tại bản án số 100/2017/HSST ngày 17/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  4. Nguyễn Mậu Đ1; sinh năm: 2001; tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mậu Đ2, đã chết và bà Nguyễn Thị Bích Đ3; vợ: Triệu Thị Ánh N, đã ly hôn; bị cáo có 01 người con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến ngày 16/7/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1982.

Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở hiện nay: Số nhà C, đường L, tổ B, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/04/2024, Cao Hữu T1, sinh năm: 2005, HKTT: Thôn K, xã T, huyện L gọi điện rủ Hoàng Thanh M1, sinh năm: 2000, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L qua nhà của Nguyễn Mậu Đ1, sinh năm: 2001, HKTT: Thôn P, xã P, huyện L để sử dụng ma tuý thì Thanh M1 đồng ý. Trước khi đi thì Thanh M1 lấy một ống thuỷ tinh có sẵn ở trong tủ quần áo thuộc phòng ngủ của mình cho vào túi áo khoác rồi cùng T1 đi đến nhà Đ1. Khi đến nhà Đ1 thì thấy có Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 2002, HKTT: thôn B, xã B, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk đang ngủ trong phòng ngủ đầu tiên của nhà Đ1. Tây nằm ngủ ở trên ghế phòng khách còn Thanh M1 mượn điện thoại của T1 để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T1 ngủ dậy và nói với Thanh M1 là để T1 kiếm tiền lấy ma tuý về chơi thì Thanh M1 đồng ý. Sau đó, Thanh M1 và T1 đưa cóng thủy tinh và một bình gas có đầu khò đưa cho T1 để thổi thành cóng sử dụng ma túy. Còn Thanh M1 đi ra đống rác ở sân lấy một chai nhựa Sting và một ống hút mùa đỏ rồi cùng T1 tự chế tạo dụng cụ hút ma tuý, sau khi chế tạo xong thì mang vào phòng nơi Quyền đang ngủ và để gần nơi cửa ra vào.

Đến khoảng 18 giờ 20 cùng ngày, khi Đ1 đi cùng bạn gái Nguyễn Phạm Tuyết N1, sinh năm: 2005 đi chơi về thì đi vào phòng ngủ rồi đóng cửa lại. Lúc này, T1 nói với Q có biết chỗ nào lấy ma tuý không thì Q nói để gọi điện cho Hoàng Văn M, sinh ngày 08/10/2003, HKTT: thôn Đ, xã T, huyện L lúc này đang ở xã T, huyện L để nhờ Văn M mua ma túy về sử dụng thì Văn M đồng ý. Sau đó Văn M yêu cầu Q chuyển tiền để đi mua ma túy. Quyền hỏi T1 là lấy bao nhiêu thì T1 trả lời là lấy 500.000đồng. Quyền mượn sim số 0353.288.331 của Thanh M1 gắn vào điện thoại của Q để gọi cho Văn M và nói Văn M nhắn số tài khoản vào số điện thoại của mình. Khi Văn M nhắn số tài khoản đến thì Q đọc cho T1 và T1 sử dụng tài khoản của T1 chuyển số tiền 500.000 đồng cho Văn M. Sau khi nhận được tiền thì Văn M điều khiển xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển kiểm soát: 49D1-761.74 đến ngã ba xã T và tìm gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch mua ma túy với số tiền 500.000đồng. Sau khi mua được ma túy thì Văn M bỏ gói nylon chứa ma túy vào gói thuốc lá và cất vào túi quần rồi điều khiển xe đi đến nhà của Đ1. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Văn M đi đến nhà Đ1 và đưa cho Q một gói thuốc lá, Q mở ra xem thì thấy có 01 (một) gói nylon chứa ma tuý và Q đưa gói ma túy cho T1. T1 cầm ma tuý đi vào phòng ngủ thứ nhất của nhà Đ1 thì Thanh M1 đi vào theo. Trong phòng ngủ, T1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã chuẩn bị trước đó ra rồi lấy một cái kéo màu đen cắt gói nylon chứa ma tuý rồi đổ vào cóng và sử dụng bật lửa màu trắng châm mồi lửa vào bật lửa màu đen để đốt ma tuý cho tan chảy ra. Khi đốt ma tuý xong, T1 đưa cho Thanh M1 hút một lượt sau đó T1 tự đốt và hút một lượt. Lúc này, Q nói T1 và Thanh M1 đi ra ngoài phòng khách để cả nhóm ngồi chơi thì T1 cầm bộ dụng cụ bên trong có chứa ma tuý đi ra phòng khách nhà Đ1. Khi ra phòng khách thì có Quyền, Văn M đang ngồi trên chiếu nhựa, T1 đốt ma tuý cho Q hút, Quyền hút xong thì T1 đốt cho Thanh M1 hút, hút xong thì đết lượt Văn M tự cầm dụng cụ đốt ma tuý để sử dụng. Lúc này Đ1 trong phòng ngủ đi ra thì Văn M đốt ma tuý cho Đ1 sử dụng rồi tiếp tục đốt cho T1, Thanh M1 và Q sử dụng. Cuối cùng, Văn M tự đốt ma túy và hút hai lượt nữa xong thì đứng dậy đi về. Khi Văn M về thì Thanh M1 cùng Đ1, Q và T1 đi vào phòng ngủ đầu tiên. Tại phòng ngủ, T1 đốt ma tuý trong cóng cho Thanh M1 và Q sử dụng còn Đ1 ngồi chơi game và không sử dụng. Ngồi một lúc, Đ1 sang phòng ngủ thứ hai với N1 còn Thanh M1 cùng Q và T1 ngồi chơi một lúc nữa thì lên nệm nằm ngủ. Đến sáng hôm sau thì T1 chở Thanh M1 đi về.

Đến khoảng 18 giờ ngày 04/04/2024, khi Đ1 cùng Q đang ở nhà Đ1 chơi game “79KING.COM” thì Đ1 được thưởng 02 phong bao quay số, Đ1 có nói với Q nếu trúng được 500.000 đồng thì mua ma tuý về chơi. Sau đó, Đ1 quay số và trúng thưởng được hơn 800.000 đồng. Khi nghe Đ1 nói quay trúng thưởng được tiền thì Q tiếp tục gọi Hoàng Văn M để nhờ Văn M mua ma tuý với số tiền là 500.000 đồng và mang vào nhà Đ1 cho Q để sử dụng thì Văn M đồng ý. Văn Minh gửi số tài khoản ngân hàng M3 của mình có số “0343285263” cho Q để Q chuyển tiền để đi mua ma tuý. Lúc này, Đ1 rút số tiền 700.000 đồng trên tài khoản game chuyển vào số tài khoản ngân hàng M3 số “0867869952” của Đ1. Quyền đọc cho Đ1 số tài khoản ngân hàng MB “0343285263” mà Văn M gửi trước đó Đ1 để chuyển tiền. Sau đó, Đ1 chuyển 500.000 đồng để thanh toán tiền mua ma tuý cho Văn M thì Văn M xin Quyền 100.000 đồng để đổ xăng thì Q đồng ý và cho Văn M 100.000đồng trong số tiền 500.000đồng mà Đ1 đã chuyển. Sau khi nhận được tiền, Văn M điều khiển xe mô tô hiệu Vario màu đen, biển kiểm soát: 49D1-761.74 đi từ nhà thuê địa chỉ tại Q đường L, Tổ B, TT. L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng tới cây ATM rồi rút số tiền 500.000 đồng. Sau khi rút tiền, M điều khiển xe đến đoạn đường thuộc thôn L, xã T, huyện L tìm gặp người đàn ông bán ma tuý mà Văn M đã từng mua ma tuý ngày 03/4/2024. Khi tìm được người đàn ông bán ma tuý thì Văn M hỏi mua ma tuý với số tiền là 400.000 đồng thì người này cầm tiền rồi đưa cho Văn M một gói nylon bên trong có chứa ma tuý “đá”. Văn M để gói nylon chứa ma tuý vào trong gói thuốc lá “Saigon” của mình mang theo rồi cất vào trong túi quần Jean bên phải và điều khiển xe đi về nhà của Đ1 tại xã P, huyện L để đưa ma túy cho Q. Khi đi đến đoạn đường nhựa gần trạm Y tế xã P tại thôn P, xã P, huyện L thì bị lực lượng công an kiểm tra và bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Văn M. Qúa trình làm việc với cơ quan Công an thì Quyền, Đ1, Thanh M1, Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì bưu điện. (BL:88-90); 01 (một) cóng thủy tinh (được tách ra từ bộ dụng cụ hút ma túy tự chế của chai nhựa màu trắng) được niêm phong trong phong bì bưu điện. (BL: 91-92); 01 kéo sắt màu đen; 01 bình gas có gắn đầu khò; 01 bộ dụng cụ hút ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu đỏ; 02 quẹt lửa trong đó có 01 quẹt màu đen đã tháo phần kim loại và 01 quẹt màu trắng còn nguyên vẹn tất cả được đựng trong hộp giấy cartton được niêm phong.

T2 của Nguyễn Ngọc Q 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng được niêm phong. (BL: 301-303).

T2 của Hoàng Văn M 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7, màu đỏ đen đã qua sử dụng được niêm phong và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu nâu đen, BKS: 49D1-761.74 đã qua sử dụng. (BL: 88-89; 289-290).

T2 của Nguyễn Mậu Đ1 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong. (BL: 279-280).

Ngày 11/04/2024, Phòng K1, Công an tỉnh L có kết luận số 445/KL-KTHS đối với:

Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3467g (không phẩy ba bốn sáu bảy gam), loại Methamphetamine.

Tìm thấy chất ma túy trong ống thủy tinh (M2) được niêm phong gửi giám định, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính Phủ. (BL:130).

Xử lý vật chứng: Ngày 17/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu nâu đen, BKS: 49D1-761.74 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phạm Thị T. (BL: 315; 318).

Tại bản cáo trạng số 01/CT - VKS ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Nguyễn Ngọc Q, Hoàng Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị can Nguyễn Mậu Đ1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; bị can Hoàng Thanh M1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Hoàng Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thanh M1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 07 năm đến 08 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Văn M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 08 năm đến 09 năm 03 tháng tù.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q từ 07 năm đến 08 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 08 năm đến 09 năm 03 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thanh M1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 08 năm 03 tháng tù đến 09 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy hai phong bì niêm phong số 445/2024 có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T3”, “Nguyễn Quang H”, “Trần Minh H1” và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh L. Bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định. Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 0,2918g.

Tịch thu tiêu hủy 01 kéo sắt màu đen; 01 bình gas có gắn đầu khò; 01 bộ dụng cụ hút ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu đỏ; 02 quẹt lửa trong đó có 01 quẹt màu đen đã tháo phần kim loại và 01 quẹt màu trắng còn nguyên vẹn tất cả được đựng trong hộp giấy cartton được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Mậu Đ1, Nguyễn Phạm Tuyết N1, Nguyễn Ngọc Q, Lăng Văn N2, Nguyễn Trung K, Trần T4 và dấu tròn đỏ của Công an xã P.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Anh T5, Nguyễn Ngọc Q; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7, màu đỏ đen đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T6, Hoàng Văn M; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Mậu Đ1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên Tòa các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 03/4/2024 Cao Hữu T1 rủ bị cáo Thanh M1 đến nhà bị cáo Đ1 để sử dụng ma túy thì bị cáo Thanh M1 đồng ý. Khi đi bị cáo Thanh M1 lấy một ống thủy tinh cho vào túi áo khoác. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày T1 nói Thanh M1 kiếm tiền lấy ma túy về chơi thì Thanh M1 đồng ý. Sau đó T1 và Thanh M1 cùng nhau chế tạo dụng cụ sử dụng ma túy và mang vào phòng nơi bị cáo Q đang ngủ.

Khoảng 18 giờ 20 phút khi bị cáo Đ1 và bạn gái đi về và vào phòng ngủ thì T1 nói với bị cáo Q có chỗ nào mua ma túy không. Bị cáo Q đã gọi điện thoại cho bị cáo Văn M để nhờ mua 500.000đ ma túy. Sau khi T1 chuyển tiền cho bị cáo Văn M thì bị cáo Văn M đã mua 500.000₫ ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch. Sau khi mua được ma túy thì bị cáo Văn M đến nhà bị cáo Đ1. Tại phòng ngủ T1 lấy dụng cụ sử dụng ma túy và đốt ma túy cho bị cáo Thanh M1 hút. Sau đó các bị cáo ra phòng khách để sử dụng ma túy. Tây đốt ma túy cho Q và Thanh M1. Sau đó bị cáo Văn Minh T7 đốt ma túy sử dụng. Khi bị cáo Đ1 đi ra thì bị cáo Văn Minh Đ4 ma túy cho Đ1, T1, Thanh M1 và Q. Sau khi bị cáo Văn M đi về thì T1, Thanh M1, Q tiếp tục sử dụng ma túy. Theo kết luận giám định số 445/KL - KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Tìm thấy chất ma túy trong ống thủy tinh (M2) được niêm phong gửi giám định loại Methamphetamine.

Khoảng 18 giờ ngày 04/4/2024 khi bị cáo Đ1, bị cáo Q đang chơi Game thì bị cáo Đ1 được thưởng 02 phong bì quay số, bị cáo Đ1 nói với bị cáo Q nếu trúng thưởng thì sẽ mua ma túy về chơi. Khi cáo Đ1 trúng thưởng thì bị cáo Q gọi điện thoại cho bị cáo Văn M nhờ mua ma túy. Sau khi mua được ma túy thì bị cáo Văn M điều khiển xe đi về nhà bị cáo Đ1. Khi đi đến đoạn đường nhựa gần trạm y tế xã P thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang.

Theo kết luận giám định số 445/KL - KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tinh thể (M1) đựng trong một gói nilon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3467g (không phẩy ba bốn sáu bảy gam), loại Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc Q, bị cáo Hoàng Văn M đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; bị cáo Hoàng Thanh M1 đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều là những người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, do đó các bị cáo biết rõ việc mua bán, tàng trữ, tổ chức... để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy là những hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược, gây ra nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với loại tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà còn mua bán, tàng trữ, chuẩn bị dụng cụ và tổ chức sử dụng ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.

[4] Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau từ trước, được thể hiện qua vai trò của từng bị cáo trong vụ án cụ thể như sau:

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:

Sau khi được Cao Hữu T1 rủ đến nhà bị cáo Đ1 để sử dụng ma túy thì bị cáo Hoàng Thanh M1 đã mang theo một ống thủy tinh cho vào áo khoác. Khi T1 nói để T1 kiếm tiền mua ma túy thì bị cáo đã đồng ý. Bị cáo cùng T1 chế tạo dụng cụ để sử dụng ma túy. Bị cáo còn là người cho mượn số điện thoại của bị cáo để bị cáo Q liên hệ với bị cáo Văn M mua ma túy.

Bị cáo Q sau khi T1 hỏi có biết chỗ nào mua ma túy không thì bị cáo đã gọi điện thoại cho bị cáo Văn M nhờ mua ma túy hộ. Bị cáo còn là người nói T1 và Thanh M1 mang ra túy ra ngoài phòng khách để cả nhóm ngồi chơi.

Bị cáo Văn M sau khi bị cáo Q nhờ đi mua ma túy thì bị cáo đã đồng ý đi mua ma túy về và mang đến nhà bị cáo Đ1. Sau khi sử dụng xong ma túy thì bị cáo còn đốt ma túy cho bị cáo Đ1, T1, Thanh M1 và Q sử dụng.

Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đ1, Q, Văn M: Sau khi chơi game trúng thưởng thì bị cáo Đ1 đã rủ bị cáo Q mua ma túy về sử dụng. Bị cáo là người chuyển tiền cho bị cáo Văn M. Bị cáo Q là người gọi điện thoại cho bị cáo Văn M để nhờ mua ma túy. Sau khi bị cáo Q nhờ đi mua ma túy thì bị cáo Văn M đã đồng ý đi mua ma túy.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam, đối chiếu với hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo Đ1, bị cáo Q, bị cáo Văn M có khối lượng 0,3467g. Vì vậy, các bị cáo Đ1, Q, Văn M phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Đ1: Bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 đã sử dụng nhà thuộc quyền quản lý, sử dụng của bị cáo để cho các bị cáo khác sử dụng ma túy nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy và sử dụng các chất ma túy, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự xã hội. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Hoàng Thanh M1 là người có nhân thân xấu. Năm 2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội: Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội.

Bị cáo Q, Văn M, Đ1 là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, khi quyết định hình phạt cần xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cho các bị cáo. Bị cáo Q có xuất trình cho Tòa án 01 giấy tặng kỷ niệm chương, 01 huân chương chiến sỹ giải phóng và 01 quyết định trợ cấp một lần đối với thanh niên xung phong tham gia kháng chiến của ông Nguyễn Minh L. Tuy nhiên bị cáo với ông L không có quan hệ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Q theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có cơ sở.

[6] Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận quan điểm luận tội và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát huyện L tại phiên tòa, cần xử lý bị cáo Hoàng Thanh M1 với mức hình phạt cao hơn bị cáo Q và bị cáo Văn M về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy xét thấy hành vi của bị cáo Đ1 là nguy hiểm hơn nên cần xử phạt bị cáo Đ1 với mức án cao hơn bị cáo Q, bị cáo Văn M là phù hợp. Đối với hành vi của bị cáo Q, bị cáo Văn M là tương đồng nhau. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo với mức hình phạt bằng nhau là phù hợp. Đồng thời, phải cách ly tất cả các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung.

[7] Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc Q, Hoàng Văn M, Nguyễn Mậu Đ1 đã phạm vào hai tội nên quyết định hình phạt đối với từng tội sau đó tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249; khoản 5 Điều 255 và khoản 5 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì ngoài hình phạt chính ra, các bị còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Xét thấy các bị cáo đều là người sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Đối với Cao Hữu T1 là đối tượng cùng các bị cáo có hành vi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà bị cáo Đ1 ngày 03/4/2024, hiện nay đang bỏ trốn, không có mặt tại địa phương và chưa làm việc được nên ngày 13/5/2024, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện L đã ra quyết định truy tìm đối với Cao Hữu T1. Vì vậy, đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Hoàng Văn M do chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

[11] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T đã nhận lại xe. Tại phiên Tòa hôm nay bà T vắng mặt. Trong hồ sơ thể hiện bà T không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[12] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án do cơ quan điều tra bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà gồm có: hai phong bì niêm phong số 445/2024 có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T3”, “Nguyễn Quang H”, “Trần Minh H1” và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh L. Bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định. Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 0,2918g. Đối với hai phong bì này đựng ma túy nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 kéo sắt màu đen; 01 bình gas có gắn đầu khò; 01 bộ dụng cụ hút ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu đỏ; 02 quẹt lửa trong đó có 01 quẹt màu đen đã tháo phần kim loại và 01 quẹt màu trắng còn nguyên vẹn tất cả được đựng trong hộp giấy cartton được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Mậu Đ1, Nguyễn Phạm Tuyết N1, Nguyễn Ngọc Q, Lăng Văn N2, Nguyễn Trung K, Trần T4 và dấu tròn đỏ của Công an xã P. Đây là công cụ các bị cáo để sử dụng ma túy nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Anh T5, Nguyễn Ngọc Q; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7, màu đỏ đen đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T6, Hoàng Văn M; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Mậu Đ1. Đây là điện thoại các bị cáo đã sử dụng vào việc liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc Q, bị cáo Hoàng Văn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hoàng Thanh M1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q 07 (B) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 07 (B) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; 15 (Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Q, bị cáo Hoàng Văn M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh M1 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

    Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 07 (B) năm tù về tội: “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; 18 (Mười tám) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Mậu Đ1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 đến ngày 16/7/2024 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

    Tuyên:

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

    • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký Lê Anh T5, Nguyễn Ngọc Q.
    • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO F7, màu đỏ đen đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Văn T6, Hoàng Văn M.
    • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu trắng đã qua sử dụng được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Mậu Đ1.

    Tịch thu tiêu hủy:

    • - Hai phong bì niêm phong số 445/2024 có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T3”, “Nguyễn Quang H”, “Trần Minh H1” và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh L. Bao gồm: Phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định. Phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định: M1: 0,2918g.
    • - Một kéo sắt màu đen; 01 bình gas có gắn đầu khò; 01 bộ dụng cụ hút ma túy tự chế gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ có gắn ống hút nhựa màu đỏ; 02 quẹt lửa trong đó có 01 quẹt màu đen đã tháo phần kim loại và 01 quẹt màu trắng còn nguyên vẹn tất cả được đựng trong hộp giấy cartton được niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Mậu Đ1, Nguyễn Phạm Tuyết N1, Nguyễn Ngọc Q, Lăng Văn N2, Nguyễn Trung K, Trần T4 và dấu tròn đỏ của Công an xã P.

    (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/3/2025). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 32/2025/HS - ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 32/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn nGọc Quyền - TT Trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger